HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

http://giahoithutrang.blogspot.com/2012/06/ho-chi-minh.html

Tuesday, 15 May 2012

SƠN TRUNG * RAU SAM NGOÀI VƯỜN

SƠN TRUNG
 RAU SAM NGOÀI VƯỜN 

TẬP TRUYỆN 

 

 

    GIA HỘI

 

 

MỤC LỤC 

I. RAU SAM NGOÀI VƯỜN  
II.VỀ MIỀN TRUNG
III. CON XÀ-NIÊNG
IV. NHỮNG HÀNG BIA LIỆT SĨ
V. NGƯỜI BỘ ĐỘI NĂM XƯA  
VI. NGƯỜI BỐ LIỆT SĨ
VII. PHIÊN TÒA CHUỘT  
VIII. XUÂN NÀY CHÁU KHÔNG VỀ  
IX. VỊ KHÁCH QUÝ  
X. MỘT THỜI THI NHẠC 
XI. NGÀY VỀ QUANG VINH 
XII. CHÙM KHẾ NGỌT
XIII. SINH VIÊN VÕ BA
XIV. EM CHỢT ĐẾN 
XV. BỮA TIỆC TẤT NIÊN
 XVI. CHUYẾN VIẾNG THĂM HỮU NGHỊ




 

 I. RAU SAM NGOÀI VƯỜN

Lúc bấy giờ là mùa xuân, quê tôi vừa mới ăn tết xong. Một buổi sáng, tôi đang ngồi trong nhà chợt nghe tiếng ồn ào ngoài ngõ. Tôi nhìn ra chợt thấy một đoàn nhi đồng khoảng sáu,bảy tuổi đang đi qua trước nhà tôi. Đoàn vừa đi vừa nhìn vào nhà tôi hô to: ' Đả đảo địa chủ', ' Đả đảo địa chủ!' Dẫn đầu là một nguời đàn bà, chị ta là cán bộ thuộc đội cải cách mới về làng tôi. Đi bên cạnh chị là Hoa, ngưởi yêu của tôi. Có lẽ các trẻ này là học sinh của Hoa được đội cải cách vận dụng để làm công tác đãu tranh. Tôi hiểu công cuộc đãu tố đã bắt đầu!


Gia đình tôi ở Quảng Binh, trước đây được xếp là thành phần trung nông, mấy tháng trước đôn lên phú nông , và nay trở thành địa chủ. Ông nội tôi là một nho sinh, đậu thi hương nhị trường, sau được bổ nhiệm hương sư, dạy học các nơi trong phủ, huyện vào cái thời nho học suy tàn, chữ quốc ngữ bắt đầu đi vào chương trình giáo dục. Ông cố của tôi cũng là một nho sinh, chết sớm. Bà cố tôi bán ruộng nương cho chồng, cho con học hành, thi cử cho nên gia sản khánh kiệt, chỉ còn lại hai, ba mẫu ruộng. Bà nội tôi về làm dâu, sớm hôm tần tảo, trông coi việc ruộng vườn, lại xe tơ dệt vải cho nên đã tậu thêm được vài mẫu ruộng, nâng tổng số ruộng vườn lên bảy tám mẫu ta. Nhưng rồi bà cũng phải bán đi vài mẫu ruộng để lo việc sách đèn cho ba tôi và chú tôi. Gia đình tôi mấy đời là nho sĩ, thành thử ruộng vườn một nửa cho nông dân làm rẽ , một nửa giữ lại canh tác bằng cách thuê người cày, bừa, gặt hái. Cộng sản kết tội gia đình tôi là thành phần địa chủ vì gia đình tôi thuộc hạng phi sản xuất, ngồi mát ăn bát vàng, bóc lột nông dân.


Bây giờ công việc đãu tố đã khởi đầu. Tôi hiểu gia đình tôi bị kết là địa chủ. Và tôi hiểu cuộc đờI của tôi đến đãy là chấm dứt những mộng đẹp. Từ đây tôi sẽ sống trong tù đày, đau khổ, không bạn bè thân thích. Mọi người sẽ bỏ tôi và phải bỏ tôi vì cộng sản đã xóa quyền làm người của tôi, đã rút phép thông công của tôi! Tôi hiểu mọi sự sớm hơn mọi người vì trước đó tôi đã chứng kiến!



Hè năm 1954, tôi tốt nghiệp lớp bảy trường phổ thông cấp hai Quảng Trạch. Lúc bấy giờ trường đóng trong miền rừng núi Quảng Châu, Tùng Chất gần Roòn. Muốn lên học cấp ba, chúng tôi phải ra Nghệ An, Hà Tĩnh. Khoảng tháng chin, tháng mười ta, chúng tôi phải đi bộ từ nhà ra Hà Tĩnh, con dường dài khoảng trăm cây số dưới cơn mưa gió rét mướt. Đến nơi trường đóng cửa, người ta bảo chúng tôi trở về mà không nói rõ lý do. Sau này chúng tôi mới hiểu là việc cải cách ruộng đất đã ngăn cản mọi hoạt động văn hóa giáo dục và chính trị. Người ta phải chờ kết quả của cuộc đãu tố để phân định giai cấp, rồi từ đó mới cho con em nông dân vào học và đuổi con em địa chủ ra ngoài. Và các thầy giáo cũng vậy. Ai thuôc thành phần bần cố nông hay trung nông thì mới đuợc lưu dụng, còn không thì phải trở về thọ tôi với cha mẹ, vợ con.


Trong mấy ngày ở tại Hà Tĩnh, chúng tôi đã nghe, đã thấy nhiều việc. Quảng Bình tôi thuộc vùng xôi đậu, nửa quốc gia, nửa Việt Minh cho nên ai cũng phải giữ gìn ý tứ. Còn Hà Tĩnh là vùng chiến khu, quân Pháp không chiếm được tấc dất. Dân chúng bàn về chính trị rất tự do bởi vì đa số họ là công thần. Họ không tôn trọng đảng và lãnh tụ như tôi tưởng. Họ bảo các ông lãnh tụ thích cô nào là cho cô ấy lên làm chiến sĩ thi đua, anh hùng lao dộng, chẳng có công bằng gì hết. Trung ương ngày nay cũng giống như triều đỉnh phong kiến, có trung thần, nịnh thần, phe miền bắc, phe miền trung, phe Hà Tĩnh, phe Nghệ An, đủ thứ chuyện trên đời! Lúc đó, tâm tư tôi nặng trĩu lo buồn, không thiết đến những chuyện thi phi ở cõi thế. Tôi nghe các bô lão nói chuyện với nhau về những cái chết ghê rợn của địa chủ, phú nông. Họ bị đưa ra đãu tố, bị chôn sống.

 Có những ông trung tá anh hùng quân đội được đơn vị cho phép về thăm nhà, chưa bước chân vào ngõ đã bị đội cải cách đem bắn bỏ về tội con địa chủ. Có những ông đại tá may mắn được các cận vệ đàn em hết lòng bảo vệ nên tháo thân trở về đơn vị an toàn. Tôi thấy rõ một trời tang tóc. Rất nhiều cái chết xảy ra trong một vài ngày. Bố tự tử vì bị con đãu tố. Có cô gái mới mười mấy tuổi đã uất ức tự tử mà chết. Những con gái địa chủ rất đẹp phải lấy những thương binh xấu xí, tật nguyền để đền tội cho gia đình. Có những thanh niên, thiếu nữ phải bỏ nhau vì không muốn bị liên hệ giai cấp. Tôi nhìn thấy có những ngôi nhà rất tang thương lạnh lẽo, cây cối xác xơ, u uất báo hiệu chủ nhân đang lâm đại nạn bi thương! Tôi nghe những chuyện rùng rợn đó và tôi hiều đó là số phận của tôi và gia đình tôi!


Khi tôi trở về Quảng Bình thì nơi đây vẫn vui vẻ như mọi ngày, chưa biết một tí gì về cải cách ruộng đất. Cộng sản rất kín. Cộng sản làm thì không nói, mà nói thì không làm. Lúc bấy giờ hội nghị Geneve đã chia đôi đất nước nhưng chúng tôi không hề nghe gì về việc này vì cộng sản sợ dân bỏ vào Nam. Tôi chợt nhớ mấy tháng trước, trên đường quốc lộ xuyên Việt, chúng tôi thấy nhiều đoàn người trong Nam đi ra Bắc. Họ mang y phục đủ màu sắc, dáng mệt mỏi. Và cũng trên con đường này, chúng tôi cũng thấy có rất nhiều người mang áo quần nâu, lặng lẽ nối đuôi nhau đi vào Nam. Chúng tôi không biết họ là ai và đi đãu. Sau này tôi mớI biết lờ mờ về hội nghị Geneve chia đôi đất nước. Vì việc này, một số người ở vùng quốc gia nay trở về làng cũ vì họ nghĩ rằng đất nước ta nay đã hòa bình. Tôi thăm họ và dò hỏi tình hình trong Nam.


Tôi đã dự tính bỏ vào Nam tìm tự do. Từ đó, tâm tư tôi luôn hướng về miền Nam. Thuở nhỏ, tôi đã theo ba má vào Sai gon sinh sống. Năm 1944, Đồng minh thả bom Saigon cho nên tôi và má tôi trở về quê lánh nạn. Sau cách mạng tháng tám, ba tôi cũng trở về quê luôn. Gần mười năm ở Quảng Bình, tôi không hề nhớ đến hình ảnh của Sàigon. Nhưng bây giờ, trong tiềm thức tôi những hình ảnh đó nổi lên rất rõ rệt. Tôi nhớ đến những đêm rất tối trên bến sông Sài gòn, ba má tôi và tôi đã thưởng thức những món ăn Sài gòn ban đêm do những cô bán hàng mang những ngọn đèn chai gánh hàng đi khắp nơi. Khứu giác tôi chợt dậy lên vị thơm của bò bảy món. Và vị giác tôi bỗng trào lên vị ngọt và thơm của nước mắm pha chanh đường của miền Nam. Tôi cũng nhớ vị ngọt của rau xà lách mà quê tôi không có. Tôi nhớ những cây cà rem mát lạnh. Tôi nhớ những cửa hàng sang trọng có nhiều đồ chơi và vải vóc, quần áo. Tôi nhớ Sở Thú Sàigòn.


Tôi có người anh họ và cũng là bạn học cùng lớp rất thân thiết bị liệt vào hàng địa chủ. Bác tôi đi kháng chiến bao năm, bán ruộng đất để theo kháng chiến, làm chủ tịch hội Liên Việt huyện Quảng Trạch. Bạn tôi có mấy anh em ở trong Nam, trong đó có một người chị rất giàu ở Sàigon. Tôi muốn rủ anh cùng đi với tôi để có nơi nương tựa. Tôi đến nhà anh, rủ anh đi tắm sông. Khi hai đứa bên sông, tôi muốn ngõ lời lại ngại ngùng vì tôi sợ việc anh ra đi sẽ có hại cho bác tôi cho nên tôi nín lặng. (Sau này, 1980, gặp lại nhau, anh hỏi tôi phải chăng lúc đó tôi có điều gì muốn nói!)


Sau tết, cán bộ cải cách đã về làng. Bà nội tôi và ba tôi đã mất cách đó vài năm. Họ bắt ông tôi, một ông già 70 tuổi đêm nào cũng phải đi suốt đêm trên cách đồng lầy lội và lạnh lẽo. Họ bắt gia đình tôi mỗi người đến một nhà tra khảo, hỏi han. Tôi hiểu họ bày kế điệu hổ ly sơn, bắt chúng tôi đi hết để họ đến nhà xét của, xem còn bao nhiêu lúa, khoai, bao nhiêu mâm thau chậu đồng, bao nhiêu vàng bạc tiền của. Họ bảo tôi phải đãu tố ông nội tôi. Nếu tôi làm việc này, đảng và nhà nước sẽ cho tôi đi học Liên Xô, Trung quốc! Tôi trả lời rằng ông nội tôi là một nhà giáo. Gia đình tôi chỉ có vài mẫu ruộng, cũng sống thanh đạm như mọi ngừơi, không phải là địa chủ bóc lột nông dân. Còn tài sản thì nhà tôi không có vàng bạc chôn cất, chỉ còn vài ba mâm thau, chậu đồng mà thôi. Tôi cũng nói rằng ba tôi là nhà cách mạng chống Pháp, gia dình tôi là gia đình yêu nước , luôn giúp đỡ người nghèo khổ. Họ im lặng và thả tôi ra.

Đối diện với những cán bộ cộng sản, lòng tôi nổi lên một mối căm hờn. Tôi với họ hôm qua cùng một chiến tuyến mà nay họ trở mặt, coi tôi là kẻ thù. Tôi còn nhớ lời họ Hồ kêu gọi toàn dân đoàn kết , mà nay họ trở lại phản bội đồng bào, chia rẽ giàu nghèo, xui con tố cha, vợ đãu chồng. Họ đào sâu thù oán giữa chủ tớ, giữa mẹ chồng nàng dâu, giữa chị dâu em chồng, họ dùng chút danh lợi để khiến đồng bào, anh em tàn hại nhau! Trưóc kia tôi rất tin tưởng cuộc kháng chiến chống Pháp. Tôi theo sách vở nhà trường yêu Liên Xô, Trung quốc là những người bạn hết lòng giúp ta vì tình cảm thiêng liêng của quốc tế vô sản. Tôi mong ước được đi du học Liên Xô, Trung quốc như mấy người bạn tôi và các bậc anh của tôi! Tôi yêu hòa bình. Tôi yêu bồ câu trắng .Tôi đã làm một bài thơ dán bích báo nhà trường đến nay tôi còn nhớ:
Tôi yêu cánh bồ cậu trắng,
Bay trong buổi bình minh.
Tôi yêu hòa bình,
Yêu Liên Xô thắm thiết mối tình anh em!

Tôi đã tích cực phấn đãu. Tôi đã lập đoàn thiếu niên cứu quốc ở địa phương và làm đoàn trưởng trong bao năm. Và khi 16 tuổI, tôi được kết nạp đoàn viên thanh niên Cộng sản. Nhưng nay thì tôi hiểu cả dân tộc này đã bị lừa đảo. Cộng sản cũng như những con hồ ly tinh. Bình thường chúng hiện lên thành những mỹ nhân rất đẹp để quyến rủ những kẻ tình si. Nhưng có lúc, chúng sẽ hiện lên những bộ mặt quỷ sứ thật hãi hùng, kinh khiếp!

Từ hôm đó, bên ngoài nhà tôi luôn có người canh giữ. Ban đêm, chúng tôi không dám nói to vì sợ bọn chúng ở bên ngoài rình rập nghe đuợc. Trước tết,một hôm, ông chú họ của tôi đi bộ đội về cưới vợ, có ghé thăm ông tôi. Sau này tôi mới biết trước khi chú tôi vào thăm ông tôi đã đến xin phép tên bí thư chi bộ đảng . May cho chú tôi, lúc chú tôi đến thăm, chúng tôi còn là phú nông! Sau tết, một anh bộ đội ghé nhà tôi để lấy lại cái ba lô mà anh đã gửi mấy năm trước, khi anh trở ra bị bọn tự vệ bắt giữ về tội liên lạc với địa chủ. Tôi không biết rõ anh bị bắt giữ bao lâu! Có lẽ anh cũng như bao bộ đội, cán bộ sau tết bị đơn vị cho về nhà để chịu sỉ nhục và chịu hình phạt với gia đình! Má tôi đi chợ trở về không vì họ cấm mua bán với gia đình địa chủ. May thay, chúng tôi còn ít muối và cà muối ăn qua bữa!


Tôi có thẻ học sinh, có giá trị đến ngày 28 tháng hai năm 1955. Vả lại, thóc gạo nhà tôi cũng gần cạn và có thể bị tịch thâu. Tôi tính phải ra đi trước thời hạn đó. Lúc nào trong người tôi cũng mang sẵn quần áo và tiền bạc. Tôi đã bàn bạc với ông tôi. Ông tôi đồng ý. Tôi không dám nói với ai kể cả má tôi vì tôi sợ má tôi để lộ tình cảm có hại cho việc ra đi của tôi. Tôi cũng không gặp và không nói với Hoa một lời nào vì tôi nghĩ chuyện tình cảm của chúng tôi đến đãy phải kết thúc. Sáng hôm đó, mọi người đang yên tĩnh. Bỗng có tiếng kêu la thất thanh. Mọi người đổ xô đến nhà của ông Câu Hiến. Té ra nhà này được chọn làm nơi giam giữ ông Hương Phóng. Ông này người làng La Hà, trước tháng tám 1945 làm hương dịch, cũng là người có chút tiếng tăm trong xã. 
Ông bị quy địa chủ, bị giam giữ nơi đây. Trong lúc bọn dân quân tự vệ ăn trưa, lơ là việc canh giữ, ông đã chụp cây mác và đâm họng tự tử. Tôi cũng chạy đến xem. Thấy ông nằm trên vũng máu, cổ lòi ra ngoài, từng vòi máu phụt ra như suối. Trong lúc mọi người náo loạn, tôi lẻn ra đi, qua sông, qua phà, theo dường quốc l vào Đồng Hới. Tại đây, tôi gặp mấy người quen đang đi mua gạo ở Đồng Hới về bán. Sợ tiết lộ, tôi men theo dường hỏa xa mà đi. Tôi cũng bị công an bắt gặp trong khi đi loanh quanh tại Bến Hải. Song vì tôi có giấy tờ, lại nhanh chân và nhanh trí, cuối cùng tại đây, tôi hòa nhập với dòng người đi bộ từ bắc di cư vào Nam.


Ở nhà má tôi cuống cuồng, đã làm mọi thứ phép tắc như là đốt một chiếc áo của tôi để tôi trở về nhưng vô hiệu. Hoa khóc hết nước mắt và hợp lực với má tôi tìm kiếm tôi khắp nơi. Việc tôi ra đi đã làm phấn khởi các thanh niên trong vùng. Họ cũng ra đi nhưng không thoát. Các thanh niên ở vùng quốc gia trở về đều bị bắt giam mấy năm trời vì bị tình nghi phản động. Ông tôi bị giam và bỏ đói. Cô tôi đem trộm cơm cho ông tôi. Ăn xong, ông tôi chết, và thi hài đươc bó trong một manh chiếu rách. Ba tôi đã mất, sinh thời chống Pháp nhưng không theo cộng sản bị quy là Quốc Dân Đảng. Bác họ của tôi- đã nói ở trên- theo kháng chiến, nhà chỉ còn hai ba sào ruộng hương hỏa bị xử bắn vì tội địa chủ và Quốc Dân đảng. Họ tôi có mấy người nghèo kiết xác cũng bị đem ra đãu tố vì tội cường hào ác bá, và Quốc dân đảng. Làng tôi nghèo nhưng cũng có mấy chục địa chủ, cộng với cường hào, ác bá thì cũng có hơn trăm nạn nhân. 
Những kẻ nghèo hèn không có tấc đất nhưng không tích cực theo đảng mà đấu tố, lại có con theo thực dân Pháp như gia đình ông Cu Lành, cũng bị loại ra ngoài xã hội. Họ không được chia ruộng đất, không đuợc coi là nông dân, bị đuổi ra ở ngoài bờ sông chài lưới mà sống. Những loại người này cùng với con cháu địa chủ sống một đời âm thầm tủi nhục. Nhưng trong cái rủi có cái may. Con cháu họ không đuợc vinh dự trúng tuyển bộ đội cho nên gia đình họ không có ai làm thương binh liệt sĩ. Họ đuợc thí cho mấy thước đất loại xấu nhưng sớm hôm họ vun xới thì còn tốt gấp trăm đất Hợp tác xã. Họ trở nên nhiều lúa, nhiều khoai hơn những bần cố nông thuộc thành phần cách mạng tiên phong!


Gia dình tôi bị đãu tố. Chúng tịch thu tài sản nhà tôi. Bao giường tủ, chum lu, mâm chậu, sách vở đều đem chia cho những kẻ có công đãu tố. Chúng chưa tịch thu nhà tôi vì nhà quá lớn, tên nào cũng hăm he tranh giành cho nên chưa ngã ngũ. Dần dà mãi thì đội sửa sai thay đổi chính sách cho nên má tôi còn giữ được căn nhà cũ.

Trong những ngày đầu tiên, má tôi và các em tôi rất khổ. Má tôi , các em tôi và các anh họ của tôi phải đi các nơi làm thuê, làm mướn. Có ngưòi lên rừng đốn củi. Có nguờI bỏ làng thay tên đổi họ trốn ra vùng mới tiếp thu như Hà Nội, Hải phòng. Bà con, họ hàng nhiều người trở mặt. Trước ngày đấu tố, có kẻ xông ra chiếm đất của gia đình tôi làm nhà. Nhưng đa số thì tốt. Họ đã lén giúp đỡ má tôi và em tôi. Cộng sản tịch thu lúa gạo, má và em tôi không còn gì để ăn. May sao, năm đó, trong vườn và ngoài vườn là nương lúa nhà tôi, rau sam mọc lên rất nhiều. Đây là một loại rau thiên nhiên, mọc nhiều vào mùa xuân, thân bò, lá nhỏ nhưng dày như lá mồng tơi, nông dân thường hái luộc ăn, có vị chua. Má tôi và các em tôi hằng ngày ăn sau sam thay cơm mà qua đuợc cơn bĩ cực.

     

  II.VỀ MIỀN TRUNG

Hè năm 1988, tôi lại về thăm quê tôi. Đây là chuyến đi thứ hai của tôi về thăm quê nhà. Chuyến này tôi đi bằng xe ô-tô từ Sài gòn ra Huế, đến Huế thăm bạn bè và bà con, sau đó đáp xe đò Huế - Vinh để về nhà.


Hôm đó tôi lên xe xích lô máy ra bến xe Pétrus Ký. Lúc này muốn đi Trung, Bắc, người ta phải ra nơi này lấy xe. Sau này, xa cảng miền Đông ra đời, người ta bỏ bến xe này. Tôi đi thật sớm, khoảng năm giờ sáng vì khoảng 6giờ sáng, xe đã lăn bánh. Xe đi ngang trường đại học Sư Phạm ở đuờng Cộng Hòa. Suốt đường này trồng hai hàng cây cao, hoa màu hồng nhạt. Đây là nơi tôi đã theo học trong ba năm trời, và đã tốt nghiệp, đi dạy học vài năm trời, mà nay thì tôi đã gĩã từ sân trường. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy một hiện tượng rất lạ. 

Từ xa tôi thấy đường Cộng Hòa như có sương mù dày đặc. Xe chạy lại gần, tôi mới thấy từ trên ngọn cây cao, hàng ngàn con sâu buông mình xuống lưng chừng trời bằng những sợi tơ trắng. Thế mà trước đây tôi không thấy. Có lẽ khi đêm thanh tĩnh, sương rơi xuống nhiều, đàn sâu mới thả dây xuống rong chơi phố phường, gần sáng, xe cộ qua lại ồn ào, chúng rút lui về chiến khu an toàn, và biến mất trên tàng cây cao. Té ra phải có những lúc nào đó ta mới có thể thấy những điều mà bình thường ta không thấy.


Đi xe đò thì dễ mua vé hơn là đi xe lửa, và không bị người ta nằm võng đu đưa trên đầu. Xe đò lúc này đuợc sơn phết sáng sủa , lại được trang bị cassette cho hành khách nghe âm nhạc. Sau 1975, bao nhiêu radio, cassette tôi đã bán sạch. Hơn mười năm tôi không nghe âm nhạc, bây giờ ngồi xe đò đuợc nghe lại những giọng hát của Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thu, Elvis Phương qua những băng nhạc hải ngoại, lòng tôi thật cảm xúc vô cùng. Tiếng hát thật êm ái, bay bổng nhắc nhở tôi thực tại xung quanh, những tiếng hát cộc cằn thô lỗ trên đài Sài gòn sau 1975. Một anh bạn sinh viên tâm sự với tôi rằng anh ta là một sinh viên nằm vùng, rất có uy tín trong địa phương. Sau 1975, anh đuợc giao công tác văn nghệ địa phương và anh dề nghị rằng bây giờ đã hoà bình, nên có giọng hát êm ái hơn là những tiêng gào thét inh tai điếc óc như trước. Kết quả là anh đuợc người ta đem đi lao động cải tạo một thời gian vì cái ý kiến đổi mới đó.


Sống trong chế độ cộng sản, cái gì cũng trở thành những vấn đề quan trọng. Âm nhạc dường như là một niềm say mê của tuổi trẻ. Töi đã đi lao động tại nông trường Lê Minh Xuân ( Củ Chi). Nông trường này đưọc coi là thí điểm của thành phố, và điểm son của thành phố. Đây là vùng nước mặn, lại sõi đá cằn khô, nông dân chỉ trồng lúa mỗi năm một vụ. Nay đảng bắt trồng một năm hai vụ. Còn chỗ nước mặn, xưa nay bỏ hoang, đảng bắt thanh niên xung phong đáp đê ngăn nước mặn, lập thành ruộng trồng thơm
( dứa) xuất khẩu. Thơm cũng không chịu nổi nưôc mặn, chết lớp này đến lớp khác nhưng đảng vẫn kiên trì bắt dân đi lao dộng trồng thơm, để rồi thỉnh thoảng cũng sản xuất đuợc một vài trái thơm nhỏ xíu và chua lè! Tội nghiệp những dân thành phố, xưa nay chưa biêt ruộng đồng là gì, nay phải lội sình đào đất làm thủy lợi và đi trồng thơm. Người ta gọi những nông trường là những 'trung tâm tàn phá sắc đẹp'' . Sau 1975, Sai gòn đã chết, Saigon trở thành đia ngục. Những hình bóng thân thương ngày xưa đã mất. Đa số người dân Việt Nam phải sống trong đau khổ chứ không như lời ca ngợi giả dối của Trịnh Công Sơn:
Em ra đi nơi này vẫn thế. Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ. Vườn xưa vẫn còn tiếng mẹ ru.

Và đi lao động trên công trường là một đày ải chứ không vui vẻ như lời ca tụng ca Trịnh Công Sơn về nông trường đỏ.
Trên nông trường không xa lắm
Có đôi chân đi không ngại ngần
Em bây giờ, quen mưa nắng
Gánh trên vai vấn vương bụi trần

Từng vai áo phơi sẽ xanh thêm đời
Bàn tay làm nên những mùa vui...


 của những người cộng sản, Liên Xô sẽ xây dựng nơi đây một thành phố Sài gòn thứ hai. Nhưng sự thực những khó khăn cứ đổ dồn tới. Nông trường muốn xin tiền làm một cái gì cũng phải có đủ 20 chữ ký của cấp trên. Cuối cùng những đám giải phóng miền Nam như Tạ Bá Tòng, Nguyễn Hộ đã bị cho về hưu, và nông trường Lê Minh Xuân cũng như bao nông trường khác sau một thời gian thổi phồng để lấy thành tich cho một vài vị vào trung ương đảng hay vào tỉnh ủy thì bị rơi vào quên lãng.

Cuối tuần, nông trường tổ chức văn nghệ do thanh niên xung phong tổ chức. Toàn là những bài hát nhạt nhẽo, buồn chán. Nhưng cuối cùng một màn trình diễn rất cảm động. Không có trống, không có đờn, những thanh niên xung phong đã lấy song, nồi, thùng thiếc sáng tạo ra những trống và đàn để trình bày những bản nhạc ngoại quốc thật sôi động.Họ bảo là nhạc Liên Xô, Đông Đức, Hungary nhưng âm hưởng giống nhạc kích động Mỹ.

Tôi nhớ một buổi chiếu phim trên đài Sài gòn về lễ quốc khánh Khmer. Theo thường lệ, sau thủ tục chào quốc kỳ Khmer, chụp hình các quan khách Liên Xô, Trung quôc, Việt Nam, và các đại biểu lên phát biểu là phần văn nghệ, và cuối cùng là một ban nhạc Khmer trình bày nhạc ngoại quốc mà dường như là nhạc Mỹ. Những nhạc sĩ và ca sĩ trình bày rất sống động , chứng tỏ nhạc Mỹ có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Tôi cũng nhớ đến tình hình trước đây, bọn thanh niên Nga mê nhạc Beatles , đã lén thu băng, lén tập hát và tạp nhảy theo nhạc Mỹ. 
Những đứa trẻ Việt Nam lên hai lên ba, khi nghe bài hát Alababa và 40 tên cướp đã vỗ tay vui cười thích thú. Và cũng ở Việt Nam, người ta đã khủng bố , đánh đuổi dân thiểu số từ nam chí bắc để chiếm rừng phá núi nhưng bề ngoài họ trình diễn thứ âm nhạc, gọi là nhạc dân tộc, cho các văn công mặc áo Thái Mèo, đánh đờn Tơ Rưng hoặc đàn tre, hát tiếng Thái, Mường, Mán, Mèo và tiếng Việt.

 Trong những buổi trình diễn này người ta đã trình diễn vài bản nhạc theo điệu nhạc Rock của Mỹ và một ca sĩ đóng khố đã gào thét như một người da đen trên màn ảnh Mỹ. Âm nhạc Mỹ đã chinh phục thế giới . Âm nhạc đích thực là một thứ ngôn ngữ quôc tế, vượt qua mọi lứa tuổi ở mọi quốc gia. Âm nhạc vô hình xuyên qua những bức tường thép, và đi vào trái tim con người và thể hiện ở nét mặt và chân tay. không cần giảng giải và lý luận. . Còn âm nhạc tuyên truyền là một hình thức tra tấn của chế độ.

Tôi về Huế, trong các tiệm ăn người ta đã mở nhạc vàng. Và tôi lại được nghe những tiếng hát hải ngoại như hồn tôi đi vào thần thoại.

Sau một ngày ở Huế, tôi ra bến xe An Hòa đón xe Huế- Vinh. Đây là một chiếc xe cũ kỹ như xe buýt An Cựu- Bến Ngự hay Bến Ngự -Đông Ba hồi 1956. Trên xe toàn là dân chúng thôn quê mà phần lớn là dân Huế, Quảng Trị. Xe chạy một đoạn lại dừng để hành khách xuống hoặc lên. Con đường quốc lộ, hai bên đồng ruộng trải dài, thỉnh thoảng có xóm làng nhà của lưa thưa và những bụi tre cằn cỗi. Đường đi toàn là ổ gà hoặc đá lởm chởm, xe chạy nhảy như ngựa lồng. Đàn bà có thai không thể đi xe này được. Trên xe là một bác tài xế tuổi khoảng 35-40 rất hoạt bát nhanh nhẹn. Tôi không hiểu bác là dân xã hội chủ nghĩa hay dân Huế mới được học tập cải tạo vì bác 'trình diễn' quá. Bác ca hát luôn miệng:

Huế của ta ơi! Biết mấy tự hào!
Bác lại ngâm thơ bài Mẹ Suốt , rồi bài Bầm ơi của Tố Hữu:

Ai về thăm mẹ quê ta,
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm.
Bầm ơi có rét không bầm,
Heo may gió núi lâm thâm mưa phùn.. .


Bác xách bình đựng nước, tu một hơi rồi đọc tiếp thơ Tố Hữu:

Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi
Ai về với quê hương ta tha thiết
Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng
Ai vô đó với đồng bào, đồng chí. . .

Tháng tám vùng lên Huế của ta,
Quảng Phong ơi! Hương Thủy, Hương Trà.
Phú Vang, Phú Lộc, đò lên Huế,
Đỏ rợp dòng sông, rộn tiếng ca. . .

Hết ngâm thơ Tố Hữu, bác kể chuyện bác Hồ, bác Tôn kính yêu. . . .

Bác là diễn viên, là cán bộ thông tin văn hóa độc nhất trên xe. Bác là người tốt, muốn giúp vui đồng bào trên xe. Mà bác cũng là cán bộ tốt, muốn tuyên truyền con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đồng thời bác cũng là con người khôn ngoan muốn chứng tỏ bác là người vừa chuyên vừa hồng, theo đúng túi khôn xã hội chủ nghĩa là phải ''ca tụng bác Hồ đọc thơ Tố Hữu'' thì khi đi xin việc, đi thi , và làm việc đều đưọc diểm cao.


Khi xe đến Bàu Cá, Quảng Bình thì mấy công an xuất hiện, và họ ra dấu hiệu ngừng lại. Bác tài xuống xe trình giấy tờ và mỉm cười cầu tài. Không biết bác phạm lỗi gì, anh công an xé một lúc khoảng hai chục tờ giấy phạt. Một lúc sau bác lên xe, nét mặt vô cùng buồn bã và tức giận. Từ đó cho đến khi xe ra sông Gianh bác vẫn im lặng, khác hẳn thái độ vui tươi trước kia.

Khác với lần trước, lần này trong thôn có vài đám cưới. Thôn tôi và thôn bên cạnh, khắp nơi inh ỏi tiếng nhạc phát ra từ các loa phóng thanh. Lúc này quê tôi theo mốt mới. Họ mua máy thu băng và loa, mở máy lớn cho anh em bà con trong đám cưới nghe nhạc vàng của Sài gòn. Đa số dân chúng không có máy và băng cassette cho nên họ rất sung sướng khi nghe tiếng nhạc vang lên từ hai ba chiếc loa treo trong đám cưới. Và chủ nhân cũng tỏ ra tự hào vì đám cưới gia đình ta rất tân tiến! Một vài người thấy đây là mối lợi cho nên đã cho các đám cưới thuê băng và máy, khiến cho ở tận thôn quê miền Trung trước đây là vùng đất xã hội chủ nghĩa nay vang lên giọng hát của Thái Thanh, Thái Hiền, Duy Trác, Tuấn Ngọc. . , Nhưng việc mở nhạc này cũng chỉ thịnh hành một thời. Tôi về lần thứ ba thì nghe nói đã bị cấm.

 

III. CON XÀ-NIÊNG

Thuở nhỏ, tôi rất thích truyện đường rừng của Lan Khai. Truyện của ông thật hấp dẫn, thú vị, đưa chúng ta đến một thế giới xa xăm,huyền bí, với những bông lan rừng ngát hương, nhũng cọp,beo, ma thiêng,nước độc, và những cô gái Mường, Thái duyên dáng,ngây thơ.
Nhưng con người tài hoa đó không được sống lâu . Vì ông làm thư ký cho một hãng buôn Nhật bản cho nên năm 1945 ông bị cộng sản giết về tội làm tay sai cho Nhật bản! Ông mất đi và thể loại truyện dường rừng của ông cũng mai một theo vì không ai có thể kế tục con đường ông đi.

Tôi rất thích truyện Ngậm Ngãi Tìm Trầm của ông. Truyện của ông một phần là do tưởng tượng, nhưng phần lớn được xây dựng trên cơ sở thực tế, cơ sở truyền thuyết trong nhân gian. Người Việt Nam ta tin rằng trầm là một loại cây quý, có ma thiêng trấn giữ, phải có duyên lắm mới tìm được trầm. Người Việt Nam ta ngày nay ngoài nghề đi đào vàng, người ta còn đi tìm trầm, vì trầm rất đắt, một ký trầm bằng một ký vàng. Muốn tìm trầm, người ta phải đi từng đoàn,vào tận rừng sâu, có khi vài tháng trời mới tìm đươc một cậy trầm.

Vì đi sâu trong rừng lâu như vậy, người ta dễ lạc nhau, và thiếu thực phẩm. Để tránh ma quỷ cũng như để tránh đói khát, người ta phải tìm đến các ông thầy ngãi, mua một cũ ngãi đã được thầy làm phép, ngậm trong miệng trong suốt cuộc hành trình. Nhưng ngậm ngãi cũng có tác hại. Ngậm ngãi quá thời hạn thì miệng cứng đờ,không nói được,thân thể mọc lông lá, ít lâu sẽ đi bằng bốn chân, trở thành một con thú rừng. Có người nói rằng khi người ngậm ngãi đi rừng về, người nhà phải lấy cây chổi quét nhà đập lên đầu ba cái thì người đó sẽ trờ lại bình thường. Nếu không , người đó sẽ bỏ nhà lên rừng ,trở thành thú vật.

Sau 1975, người Việt Nam chúng ta không ngậm ngãi, cũng không lên rừng tìm trầm,nhưng một số đã hoá thành con xà niêng, da thịt cháy đen, tóc tai bờm xờm, không quần áo,không nói năng. đi lang thang trong thành phố. Đó là những bà mẹ mất con, người chồng mát vợ, ông triệu phú mất tài sãn.. . Họ không quá khứ, không tương lai và cũng không hiện tại, Họ mất ý thức, họ cũng mất cả thân hình vì cái thân hình xấu xa, còm cõi kia đâu còn thuộc về họ ? Họ không thuôc loài ngừơi, họ không thuộc thú vật, họ cũng không thuôc giới ma quỷ.. .

Sau 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi rất đông, trong số đó cũng có những kẻ một thời hăng hái đãu tranh hòa bình, những kẻ thân cộng.Họ trốn tránh ra đi, và cán bộ địa phương tỏ ra rất thú vị vì nhà cửa, tài sản cũa kẽ vượt biên từ nay thuộc vào tay cán bộ. Một số đã đến nơi an toàn . Một số đã chết trên biển cả. Những kẻ tổ chức vượt biên đa số là gan dạ và khéo léo, Họ bỏ rất nhiều công phu trong việc mua ghe, đóng tàu, và tỏ ra khôn ngoan trong việc mua bến bãi. Tàu chở ba chục, công an gửi theo 10 ngừời hay hai ba chục nữa. Không lẽ từ chối ? Không lẽ quay về ? Họ đành liều với một số người quá tải ! Về phía chúng ta, nhiều khi ta cũng liều nhắm mắt đưa chân. Họ chỉ cho chúng ta thấy con tàu Hy vọng của chúng ta là một tàu đi biển, dài hơn chục thưóc. Nhưng khi lên tàu, chúng ta thấy rất nản, con tàu Hy vọng thực ra chỉ là một chiếc ghe dài vài thước.Trót đóng tiền, không lẽ quay trở về ?

Thành ngữ " cùng hội cùng thuyền " trong Việt ngữ rất hay, nó chỉ những người cùng chung cảnh ngộ. Thật vậy, lên trên tàu, họ cùng chung cảnh ngộ ly quốc, ly gia. Nhưng tâm trạng, cá tính, nguồn gốc khác nhau. Một số là là dân chài, một số là nông dân, một số là sĩ quan, một số là trí thức, một số là thương gia, nhưng một số là công an, gián điệp cộng sản.Và trên tàu, không phải ai cũng thương ai. Có một ông chủ tàu rất khôn ngoan.

Ông đóng hai chiếc tàu. Một chiếc kinh doanh. Một chiếc cho gia đình ông. Ông cho chiếc kinh doanh đi trước. Khi chiếc kinh doanh đi được một đoạn, ông gọi điện thoại báo công an. Trong khi công an vây bắt chiếc kia thì ông cho xuất phát chiếc tàu gia đình ông. Do đó, ông đi thoát. Ông đã khôn ngoan theo phép dương đông kích tây của binh pháp Tôn tử. Ông thoát khỏi Việt Nam nhưng khi đến gần Thái Lan , tàu ông mắc nạn. Ông đã đóng tàu hai đáy để đựng vàng bạc, của cải nhưng sóng đánh, tàu rã, bao nhiêu của cải đều trút xuống đại dương.


Một số rất lớn đi không thoát đã bị cộng sản bắt lại. Khổ nhất là bị bắt tại miền Trung vì cán bộ miền Trung rất độc ác. Bị bắt trong Nam dễ chịu hơn, nhưng một địa danh trong Nam ai cũng ớn lạnh đó là trại tù Bến Tre.

Gần nhà tôi có một bà già, mọi người gọi bà là bà sư! Sư gì không chồng mà có hai con ? Té ra bà này trước kia ở chùa, sau làm nghề bói toán kiêm cắt lể. Ngày xưa bà lân la với các ông, các bà lớn, tậu được cửa nhà. Sau 1975, bà trở thành người của "cách mạng", làm hội phụ nữ, kiêm thanh tra nhân dân, suốt ngày lân la nhà bọn cán bộ.Nhà này phải đi kinh tế mới, nhà nọ phải học tập cải tạo,phần lớn là do bà ton hót với bọn cán bộ.Bà rất khôn ngoan.
 Bàn ghế,xa lông bà cất trên gác. Xe Hoda,Suzuki bà che đăy và cất trong xó. Đi đâu bà mặc áo rách. Bà làm đơn xin trợ cấp xã hội. Bà đuợc bọn cán bộ tin dùng rất mực. Bà được đi tham quan một trại tù nhân Bến Tre. Khi bắt được người vượt biên, bao nhiêu đàn bà, con gái đều bị đưa về đây. Mới ngày đầu tiên, những người này đã bị lột truồng. đã bị những bàn tay thô lỗ của bọn công an khám xét. Chúng khám xét khắp mọi nơi trong cơ thể, nhất là chỗ kín. Khi tù nhân đại tiện, chúng bắt họ ngồi bô, xong chúng thò tay hoặc lấy que khều thử có vàng hay kim cương không.Và từ đó trở đi, tù nhân nữ lúc nào cũng bị bắt ỡ truồng. Khi lao động ngoài đồng hay trong rừng, bất cứ mùa nào, chúng cũng bắt họ phải trần truồng trước cặp mắt dã man và khát khao của chúng.Ai không chịu thì chúng chửi bới, đánh đập thậm tệ.

Tại sao bọn công an lại dã man như vậy ? Phải chăng chúng mắc bệnh cuồng dâm ? Phải chăng chúng muốn hành hạ người phụ nữ Việt Nam ? Phải chăng đó là biện pháp mà chúng nghĩ rằng có thể khiến cho tù nhân nữ không dám trốn trại ?

Một buổi chiều kia, tôi đạp xe qua miền Phú Lâm .Tôi chợt thấy ở đàng xa, trên cánh đồng hoang, một người con gái trần truồng chạy trong ánh nắng chiều. Da màu đồng, thân thể nẩy nở thon chắc, đôi chân dài như là một lực sĩ thế vận hội. Tôi nghĩ đó là một người con gái chứ không phải đàn bà vì thân hình qúá thanh mảnh,gọn gàng. Và nàng cũng không phải là một người điên vì hình tượng rất mạnh khỏe, tinh anh. Tôi nghĩ rằng đó là một tù nhân nữ trên con dường tìn tự do, trên con đường trở về mái ấm. Tôi thầm hỏi: không biết gia đình nàng bấy giờ ở đâu ? Gia đình nàng đã vượt biên hay đi vùng kinh tế mới ? Nàng trở về có an toàn không hay lại bị công an bắt giam ?

  IV. NHỮNG HÀNG BIA LIỆT SĨ

Cuộc chiến xảy càng ngày càng ác liệt. Bao chiến sĩ con em miền bắc đã đi vào chiến trường miền Nam mà vẫn chưa trở về, họa chăng là những bức thư của đơn vị gửi về thông báo mất tich. Ngày này sang ngày nọ, loa truyền tin của xã loan báo tin ta thắng địch thua nhưng trong lúc đó lệnh bắt lính đưa ra rất khẩn trương. Những thiếu niên , thiếu nữ 15, 16 tuổi cũng đuợc nhà nước mượn trước tuổi, đưa vào cung ứng cho chiến trường miền Nam. Những tin tức thì thầm trong dân chúng ngày càng trở nên sôi nổi. Người ta nói rằng bao nhiêu bộ đội đổ vào miền Nam đã tiêu tan trong vụ tổng tấn công mậu thân 1968.Người ta nói rằng ta bị Mỹ lừa. Mỹ bí mật ký kết với ta rằng Mỹ sẽ rút lui khỏi miền Nam, để mặc cho hai bên tự giải quyết với nhau. Mỹ sẽ đứng bên ngoài cuộc chiến, không can thiệp, không giúp đỡ cho quân miền Nam. Quân ta tin lời, đem tất cả lực lượng tấn công Sàigon và hầu hết các tỉnh lớn của miền Nam. 

Ban đầu Mỹ yên lặng nhìn quân ta tấn công, nhưng sau mấy ngày, quân ta yếu thế , bị ngụy quân phản công tới tấp, quân Mỹ thừa cơ xông vào tiêu diệt quân ta trọn gói.Nghe đâu khi giải phóng Huế đuợc hai tuần, người ta đã đưa bác Hồ vào thăm nhân dân, nhưng vừa mới bước vào đại nội thì bị Mỹ thả bom khiến bác Hồ bị thương. Bọn cận vệ phải liều chết mới mang bác về đuợc Hà Nội. Phần vì sơ hãi, phần bị thương nặng, vài năm sau bác chết! Người thì nói Mỹ gian xảo, kẻ thì bảo cấp lãnh đạo của ta dại khờ. Vì hao binh tổn tướng trong vụ mậu thân, việc bắt lính càng gia tăng gấp bội và rất bức bách.

Trương là một học sinh cấp hai, năm đó mới 15 tuổi.Trong thôn của Trương lúc bấy giờ có 20 thiếu niên ở lứa tuổi 15, 16 đều phải ra chiến trường, trong đó có Trương.Những tân binh này chỉ được huấn luyện quân sự qua loa trong hai tuần rồi cho vào miền Nam. Xe Liên Xô chở tân binh vào đến Quảng Bình thì cả bọn xuống xe đi bộ vào miền nam. Họ bị bắt phải đi liên tiếp cả ngày lẫn đêm, chỉ đươc dừng lại trong giờ ăn và giờ ngủ.Nhiều tân binh bị bệnh cũng phải cố gắng lê lết theo đoàn vì sợ bỏ rơi giữa rừng. Những lính gái có kinh nguyệt chảy ướt cả quần vẫn không đươc dừng chân. Trên đường Trường Sơn dường như không có trạm xá cho tân binh và thương binh. 
Trên đường đi, Trương thấy những người nằm gục lại bên gốc cây rên hừ hừ. Cũng có những thân hình nằm yên trong chiếc chăn che kín, không biết người ấy đương nằm ngủ hay đã chết. Trong không gian có mùi xác chết, không biết do bom Mỹ đã làm tan thân xác, rải rác trong chòm cây, hốc đá, hay thây của những người bệnh tật, đi không nổi và đã ngã gục, phơi xương trên Trường Sơn. Không ai đuợc phép dừng lại, dù chỉ là một giây để thăm hỏi người đồng chí. Tất cả cho chiến trường. Hỏa tốc! Hỏa tốc! Tất cả cho Miền Nam thân thương ruột thịt! 
Miền Nam đang kêu gọi chúng ta! Hãy tiến nhanh về phía trước! Bọn chúng tôi không có bữa nào được no. Và trên đầu thỉnh thoảng có máy bay địch bay vần vũ. Trong khoảng hai tháng di chuyển từ Quảng Bình vào chiến khu, đơn vị của Trương đã bị B52 thả bom hơn mười lần. Khi vào đến miền nam, đơn vị 2000 bộ đội, phần bị bệnh bỏ xác dọc đường, phần bị bom, phần bị thất lạc, chỉ còn một phần ba.


Khi ở Trường Sơn, đơn vị chỉ lo việc di chuyển nhanh chóng và an toàn, và sự cực khổ là phải đi suốt trong hai tháng, thiếu cơm ăn và thiếu ngủ. Nhưng khi vào đến miền Nam, nhiều sự cực khổ khác lại xuất hiện. Đơn vị Trương bị phân tán và bổ sung vào các đơn vị đã bị tiêu diệt. Ở đây, Trương cũng sinh hoạt theo tổ chiến đấu ba người. Tổ này gồm một người Bắc, một Nam và mộtä Trung. Anh người Nam rất hiền lành dễ thương, một anh người Bắc lớn tuổi làm tổ trưởng. Anh người Bắc rất quan liêu hống hách. Ngày họp một lần vào buổi chiều để kiểm thảo công tác.Họp tổ xong, tổ trưởng đi họp tiểu đội.Ngày nào Trương cũng bị kiểm thảo, phê bình sát ván. Trương thở dài, họ phê bình là bi quan.Trương nhìn trời chiều, họ phê bình là lãng mạn.
Trương đi thong thả thì bị phê bình là lười biếng, tiểu tư sản. Trương thấy sống đời bộ đội là sống trong địa ngục. Trương cũng như các bộ đội luôn luôn phải đóng trò, luôn luôn giả dối để khỏi bị phê bình.Trưong không dám cười đùa, không dám tỏ bày tâm sự với ai vì trong bộ đội cũng như trong đời sống bình thường của xã hội chủ nghĩa, con người phải biết kín đáo và biết nịnh hót thì mới tồn tại.Tuy nhiên anh bạn miền Nam dường như là một con người khác. Anh rất thật thà, chất phác, đem mọi việc kể riêng cho anh hay. Quê anh ta ở một vùng quê tỉnh Kiến Hòa. Gia đình anh cũng tương đối khá giả. Ba anh mất sớm, mẹ anh bị bệnh tim. Các chú bác khuyên nên đưa má anh lên bệnh viện tỉnh điều trị nhưng má anh và anh ngần ngại đường xa và tốn kém. Vùng anh ở là một vùng xôi đậu. 
Ban ngày thuộc chính phủ quốc gia, ban đêm thuộc mặt trận. Các cán bộ mặt trận thường ghé thăm nhà anh, gọi má anh là " má chiến sĩ" ngọt xớt. Họ khuyên má anh nên vào chiến khu chữa bệnh vì trong đó có bệnh viện rất lớn, rất tối tân hơn cả nhà thương Mỹ Ngụy, có bác sĩ Liên Xô, Cu ba, Trung quốc điều trị, không phải tiền bạc gì cả, vì xã hội chủ nghĩa là công bằng, phục vụ mọi người, nhất là phục vụ dân nghèo, không như tư bản chỉ biết ăn tiền. Họ còn cho biết bọn tư bản ăn tiền ghê lắm, bán cả nhà cũng không đủ viện phí. Bọn Mỹ Ngụy lại hút máu người, dùng bệnh nhân để thử thuốc và vũ khí bí mật. 
Do đó, má của anh và anh quyết định vào chiến khu chữa bệnh. Vào chiến khu, hai má con phải sống trong rừng,trong những trại lợp bằng lá của mặt trận,có một số thương binh và y tá săn sóc, không thấy bệnh viện to lớn, tối tân đâu cả. Họ cho má anh uống B1, aspirine hoặc xuyên tâm liên. Hỏi bệnh viện lớn ở đâu, họ bảo phải chờ lệnh của trung ương cục mới vào trong đó được. Má anh đã bị bệnh tim không thuốc chữa, lại còn bị bệnh sốt rét rồi chết.
 Anh xin về quê thi cán bộ bảo anh về sẽ gặp nhiều nguy hiểm. Thứ nhất là bọn ngụy sẽ giết anh. Hai là bị máy bay Mỹ bắn chết. Ba là đi dẫm phải mìn của ta mà chết. Nghe nói vậy, anh biết là không về quê được. Họ còn bắt anh học tập đuờng lối, chính sách của mặt trận. Họ bảo anh phải trả thù cho má anh vì má anh đã chết do bàn tay của đế quốc Mỹ. Nếu Mỹ không qua xâm lăng miền nam, má anh đâu có cực khổ, lo buồn mà sanh bệnh. Bệnh của má anh là do Mỹ Ngụy gây ra. Anh phải đi theo mặt trận để giải phóng dân tộc và trả thù nhà! Bât đắc dĩ anh phải đi lính cho mặt trận. Té ra người đồng chí miền nam này cũng như anh bị bắt buộc phải cầm súng phục vụ đảng!


Qua những buổi hành quân, Trương chưa được vào sống trong những làng xóm miền Nam, Trương chỉ ở ven rừng, hoặc hành quân qua thôn xóm trong đêm tối. Trương thấy trong không khí một chút gì đó có vẻ thoải mái, tự do hơn miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà Trương đã sống. Ruộng đồng xanh tốt, nhà cửa cao ráo, cây cối xanh tươi, chứ không như ngoài bắc là đất chết, không có cây xanh, không có hồ nước biếc, không có chim bay, cá lội, không có ve kêu, bướm lượn. Ngoài bắc y phục dân chúng chỉ có một màu nâu, còn trong nam, nam nữ mặc y phục nhiều kiểu, nhiều màu, không ai mang áo vá, quần vá.Thôn quê miền bắc thỉnh thoảng mới có một chiếc xe đạp, còn ở trong nam, xe đạp rât nhiều, có cả xe gắn máy nữa. Ruộng đồng ngoài bắc rất ít bò vì không còn cỏ mọc. 
Người ta phải cày bừa thay trâu. Còn miền Nam có nhiều cày máy nhỏ, và có rất nhiều trâu bò. Trương đã thấy những đàn vịt hàng trăm con lội rất vui vẻ. Anh cảm thấy miền nam có một cái gì tươi mát hơn, dễ chịu hơn miền bắc. Một miền nam phong phú, giàu mạnh nhơn miền bắc. Vậy anh vào đây để làm gì? Để phá họi cuộc sống thanh bình của họ ư? Ý nghĩ này anh chỉ cho nó phát triển trong đầu óc, không dám biểu lộ ra ngoài.Anh đã âm thầm sáng tác một bài thơ gửi mẹ:
Mẹ ơi, con đã lầm.
Con đã theo họ vào đây,
Con đã để hai bàn tay,
Dính máu hôi tanh,
Máu của dân lành,
Của đồng bào miền Nam ta đó.
Con đã đi theo loài quỷ dữ,
Giật mìn, phá cầu, phá cuộc sống an bình,
Để phục vụ đế quốc Nga và thực dân Trung quốc.
Tất cả chúng nó,
Lê Nin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh
Là một lũ yêu tinh.
Đội lốt người anh hùng yêu nước thương dân,
Để lừa gạt những kẻ dại dột, ngu đần.
Người ta bảo hãy tranh đấu cho tư do, độc lập,
Nhưng bản thân con và cả dân tộc bị chà đạp
Dưới bàn chân của lũ quỷ tanh hôi!
Hơn hai mươi năm dân tộc ta mất hẳn tiếng cười,
Vì lũ quỷ mặt người,
Ngụy trang bằng tự do, dân chủ

Chúng đã làm dân ta đau khổ
Trong kiếp người nô lệ lầm than!


Sau hai năm ở tiền phương, đơn vị Trương được đưa vào căn cứ làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo. Công việc và đời sống ở đây nhàn hạ hơn là ở trận chiến. Trong thời gian ở Trường Sơn và ở tiền phương, đời sống bộ đội rất cực khổ, Nhưng tại trung tâm đầu não, các kho hàng không biết bao nhiêu mà kể.Hàng ngày các cấp dưỡng và cận vệ mang rựơu thịt, sâm banh ngoại quốc và các thứ xa xỉ phẩm của Trung quốc như yến, bào ngư, sâm nhung cho các cấp lãnh đạo trung ương cục. 
Các ông sống ngang hàng với các vi vua chúa ngày xưa. Họ đã làm luật,hoặc ban quy tắc cho họ. Họ phải đuợc hưởng thụ tối đa để có đầy đủ sức khỏe và trí tuệ lãnh đạo cuộc chiến, và phục vụ nhân dân và đảng, Trong khi dân chúng phải nhịn đói, thanh niên bị cấm đoán yêu đương. 
Các ông đưa ra ba khoan: chưa yêu thì khoan yêu, chưa lấy thì khoan lấy, chưa đẻ thì khoan đẻ.Trai gái có hẹn hò ân ái là bị phạt, bị tước đảng tịch. Họ không cho vợ chồng cùng làm việc một nơi. Họ bắt chồng nam vợ bắc. Ai xin vợ chồng đoàn tụ thì bị phê bình là phong kiến, lạc hậu,chỉ biết quyền lợi cá nhân, không biết hy sinh cho tổ quốc. Còn các ông lớn thì năm thê bảy thiếp công khai. Họ làm luật cho họ. Cán bộ cao cấp xa nhà ba trăm cây số là có quyền lấy thêm vợ. Cấp tướng và đại tá đuợc bảo vệ tối đa. Có bác sĩ săn sóc hàng ngày, có cần vụ nấu ăn theo tiêu chuẩn. Họ luôn luôn ở tận căn cứ xa xôi ,không bao giờ ra mặt trận.

Một ngày kia, Trương đuơng nằm ngủ say, bỗng nghe bốn bề súng nổ, bom rơi, lửa cháy. Những tiếng la hét kinh hoàng, bỗng một khối lửa ụp đến, cùng một tiếng nổ long trời lở đất, Truơng bị tung lên cao rồi té sấp xuống. Bọn chỉ huy kêu thét om sòm. Còi báo động kêu vang. Anh cố gắng đứng dậy, chạy ra dàn súng phòng không đặt trên xe. Tất cả lính phòng không, xe tăng và đại liên đều bị xích với súng theo đúng nguyên tắc người và súng là một. Anh không trông rõ cảnh vật. Tất cả chỉ là lửa, khói và cát bụi mịt mù. Anh mở mắt ra không được. Trong khoảnh khắc, anh chợt nghe thân hình anh chuyển động rất mạnh, rồi anh thấy tâm hồn anh rất nhẹ nhàng, rất thanh thản, rất bình an, và thể xác anh như bay bổng thật cao, thật cao trong một vùng ánh sánh chan hòa.
Tin Trương tử trận về đến thôn khiến cho mẹ anh khóc hết nước mắt. Vài năm sau, Miền Nam được giải phóng và đất nước thống nhất. Đảng và Nhà Nước đã nghĩ đến việc xây mồ ,mả cho các liệt sĩ. Lẽ nào người Mỹ xa xôi nghìn dặm còn tìm đến nuớc ta tìm hài cốt binh sĩ mất tích, ta lại để cho thi hài liệt sĩ vất vưởng nơi cuối bãi đầu ghềnh!
 Nhà Nước đã bỏ ra hàng tỷ đồng tiền Việt Nam để thu thập những hài cốt đã chôn cất qua loa trong thời chiến, rồi tập trung lại trong những nghĩa trang lớn. Việc tìm kíếm, chuyên chở, xây mộ cho mỗi ngôi mộ tử sĩ đã tốn khoảng ba triệu Việt Nam . 
Riêng xây mộ đã tốn hai triệu. Mọi việc đều do công trường 5 là một công ty lớn đã từng xây đập Hoà Bình hai tháng thì rạn nứt, không dùng được. Họ cũng đã xây cất chợ búa, cầu đường nhà cửa, nhà hát khắp nước. Thành quả là một số nhà lắp ghép, rạp hát ở Hà Nội và các nơi đã sụp đổ hoặc nghiêng lệch. Dân chúng và cán bô xầm xì công trường 5 chính là một công ty của các ông lớn trung ương đảng.

Người ta đã tìm thấy thi hài của Trương và đưa về một nghĩa trang lớn tại Long Khánh. Và người ta đã gửi giấy về báo tin cho gia dình biết việc này. Trong giấy nói rõ tên nghĩa trang, địa điểm nghỉa trang, vị trí ngôi mộ của Trương. Người ta còn cẩn thận chụp hình ngôi mộ của Trương với hàng chữ Đinh Văn Trương rất lớn và rất rõ.

Từ khi giấy báo tin gửi về, mẹ của Trương lúc nào cũng nghĩ đến Trương, và đêm nào bà cũng nằm mộng thấy Trương đầu bù, tóc rối, máu me đầy mình, và kêu đói, rét. Bà hỏi gì anh cũng khóc. Quá thương anh, bà tính việc bốc mộ anh về làng để anh đuợc gần gũi ông bà, tổ tiên. Bà đã xin phép cất mộ của ủy ban xã, giấy chứng nhận bà là mẹ của liệt sĩ Đinh văn Trương, và giấy phép đi đường. Mất hai ngày đi tàu Thống Nhất, bà và người con cả, cùng cậu Sáu, em trai bà đã đên tận nơi. Nghĩa trang là một khu đất rộng lớn, có tường vôi trắng toát bao bọc chung quanh. Đứng ngoài nhìn vào là thấy những hàng mộ bia thẳng tắp. 
 Mỗi mộ rất nhỏ, dài khoảng nửa mét, rộng hơn hai gang tay. Cậu Sáu đi dạo quanh thấy nhiều mộ mới xây mà đã nứt, bị chuột đào hang hoặc nghiêng lệch. Ban đầu, ban quản lý nghĩa trang không cho phép, nhưng cuối cùng chấp thuận vì bà đã dúi cho họ ba mươi ngàn đồng gọi là bồi dưỡng. Công cuộc đào xới bắt đầu lúc năm giờ sáng hôm sau. Đất khô cứng nhưng ngôi mộ xây xi măng thì bở rệu như đất cát.Có lẽ họ xây nhiều cát mà rất ít xi măng. Đào năm phút thì đến tiểu , nhưng khi mở tiểu sành ra, té ra tiểu sành không. Mọi người ngay cả ban quản lý nghĩa trang cũng ngỡ ngàng. Công việc của họ là đón tiếp phái đoàn đem hài cốt từ các tỉnh miền nam về. Hài cốt đã nằm sẵn trong tiểu sành hay tiểu gỗ.
Và cũng do nhân viện công trường 5 làm việc đào xới, chôn cất, xây mộ. Họ chỉ có việc canh giữ. Họ không hề biết trong đó chứa đựng xưong người, xương thú vật, hay là tiểu trống không.


Bà và gia đình bèn trở về trong đau khổ. Nghe theo ý kiến bà con trong xã, bà làm đơn kiện lên bộ quốc phòng. Không ngờ khi ra đến Hà Nội, bà mới biết khắp nước Việt nam, trường hợp chiếc tiểu không hài cốt xảy ra rất nhiều nơi, có thể đến hàng trăm, hàng ngàn trường hợp !

Bộ Quốc phòng chết điếng, bèn mở cuộc điều tra.Hơn hai năm sau người ta mới có tin phong thanh rằng mấy ộng lớn trong bộ quốc phòng đứng ra nhận thầu và lãnh tiền, còn mọi việc là do các đơn vị đàn em thi hành. Bọn này muốn làm qua loa, khỏi mất công mà đuợc tiền nhiều cho nên làm đại, cứ theo danh sách liệt sĩ của bộ quốc phòng, và làm mộ giả, xây cất sơ sài để lấy tiền bỏ túi. Nghe đâu nhiều ông lớn dính líu đàng sau vụ này nhưng thoát thân đuợc, chỉ thiệt thòi là mấy tên đàn em bị hy sinh oan uổng!Bộ quốc phòng và đảng đành bất lực vì kẻ làm nên tội lỗi tầy đình là các ông lớn trên trung ương. Không lẽ cách chức các ông lớn trung ương? Không lẽ đào hết hàng triệu ngôi mộ lên để khám nghiệm? Không lẽ lại bỏ ra hàng tỷ khác để làm lại từ đầu? Thôi thì đành sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi !

V. NGƯỜI BỘ ĐỘI NĂM XƯA

Cách mạng tháng tám bùng lên thì tôi đang còn nhỏ. Lúc đó, tôi cũng như phần đông dân chúng hăng hái tham gia và ủng hộ cuộc cách mạng chống Pháp.
Quê tôi đã nhiều lần đổi chủ. Sau 1947, Pháp trở lại và xây đồn bót khắp nơi. Ban ngày thì quốc gia hoạt động , nhưng ban đêm ,Việt Minh về treo cờ và giết người. Khoảng 1950, người Pháp rút bớt đòn bót, Cộng sản làm chủ hoàn toàn.
Từng đoàn bộ đội thỉnh thoảng ghé qua làng tôi. Họ chỉ đóng lại một buổi hay một hai ngày rồi kéo đi nơi khác. Họ thường ở nhà nhửng người giàu trong làng, trong số đó có nhà tôi(1). Dân chúng , nhất là trẻ con rất hồ hởi khi bộ đội về làng.Các anh bộ đội rất vui vẻ,họ hát rất hay,đôi khi có anh bộ đội lên ngâm thơ trong nhửng buổi sinh hoạt với dân làng. Các cô thiếu nử thường quấn lấy các anh bộ đội để cười đùa, để chép bài hát, hay học đàn hát. Cũng có nhửng mối tình vụng trộm, những ân ái qua đường,và cũng có những tình yêu đi đến hôn nhân.


Hồi đó khoảng 1953, một nhóm bộ đội đến ở nhà tôi. Lúc tôi chơi ở trước sân,tôi nghe họ lên tiếng gay gắt chỉ trích một anh bộ đội. Sau tôi thấy một anh bộ đội đi ra,sắc mặt buồn thảm. Anh gửi lại nhà tôi một chiếc ba lô nhẹ. Ông nội của tôi bỏ chiếc ba lô lên gác.Tôi chẳng bao giờ mở ra vì tôi nghĩ rằng trong đó chẳng có gì cả.


Ít lâu gia đình tôi từ trung nông bị ghép là phú nông, rồi lên địa chủ. Tất cả người trong nhà tôi bị gọi lên chất vấn về vàng bạc, ruộng nương. Họ khuyên tôi nên tố cáo ông nội tôi. Nếu tôi theo lời họ, sẽ được họ cho đi học Trung quốc.Trong khi chúng tôi mỗi người bị giam giử một nơi, bọn chúng vào nhà tìm vàng bạc,ghi số lúa,số mâm thau, chậu đồng, bát chén, quần áo. Đêm đêm,xung quanh nhà tôi đều có người rình để nghe chúng tôi nói gì, và giám sát mọi hành động của chúng tôi. Ngày đêm, xung quanh nhà tôi đều có người canh gác vì họ sợ chúng tôi phân tán tài sản.Không ai đưọc đến nhà tôi, và chúng tôi tất nhiên chẳng dám đến nhà ai.


Một ngày nọ, anh bộ đội năm xưa trở lại nhà tôi,xin lại chiếc ba lô rồi vội vã ra đi.Sau đó, tôi được biết khi anh ra khỏi nhà tôi thì bị bắt vì tội liên lạc với gia đình địa chủ.Tôi không hiểu số phận anh sẽ ra sao nhưng tôi nghĩ dù thế nào đi nửa số phận anh chẳng hơn gì chúng tôi vì lúc bấy giờ nhửng cán bộ, bộ đội được đön vị cho về thăm nhà đều là con địa chủ mà đảng đã nghiên cứu kỹ hồ sơ nay đuổi về để chịu tội với bố mẹ.

Trước ngày thôn tôi tổ chức đấu tố, một địa chủ trong khi bị giam giử,thừa lúc buổi trưa ăn cơm,đã lấy thanh mã tấu của tên du kích canh gác đâm cổ tự tử, cả làng nhốn nháo,tôi thừa cơ vượt tuyến. Từ đó, tôi ra rời quê hương, xa rời bao người thân yêu, đồng thời cũng xa luôn hình ảnh của anh bộ đội và cán bộ cộng sản ở quê tôi.


Tôi tạm trú ở trên đường Lê Văn Duyệt,là một trong nhửng con đường tiến quân của cộng sản trong ngày 30 tháng tư 1975. Sáng đó, tôi ra ban công trông đoàn quân cộng sản tiến vào thủ đô. Họ ngồi trên xe tăng rất có khí thế. Họ chỉa súng vào dân chúng bắt phải hoan hô họ.Một bạn tôi,vón là sinh viên tranh đãu, sau trở thành luật sư, giáo sư đại học, rất có cảm tình với cộng sản, trong ngày 30 tháng tư, dắt con ra đường đón bộ đội nhưng khi thấy họ, anh chán nản tột độ, và từ đó, anh tham gia một cuộc đấu tranh chống cộng sản, phải ngồi tù Phan Đăng Lưu vài năm. Chúng tôi thường ngồi chung với nhau uống cà phê bên bờ sông Thanh Đa, nhưng tôi quên hỏi anh tại sao hình ảnh người bộ đội cụ Hồ lại làm cho anh ghê tởm chế độ.

Sau 1975, má tôi vào thăm tôi. Sau vài tháng, má tôi trở về quê. Chúng tôi phải chầu chực hàng tuần mới mua được một tấm vé xe lửa cho má tôi. Ngày má tôi về quê, chúng tôi ra ga Bình Triệu tiễn đưa. Trong và ngoài sân ga đông nghịt người. Phần lớn là bộ đội.Họ kêu nhau ơi ớI rất to. Đó là một điểm rất đặc biệt chưa từng có trước nay ở miền Nam.Mỗi anh bộ đội đều mang nhiều hàng hóa,nào là xe đạp, phụ tùng xe đạp, radio, honda,vải, quần áo,đồ điện. Họ còn chở hàng tạ gạo,hàng bao bố nồi niêu song chảo,và đồ nhựa.Khi tàu đến, họ đổ xô lên tàu, người này chen lấn người nọ tạo thành một cuộc hỗn chiến. Má tôi suýt bị dẫm chết trong khi lên tàu.Tôi phải bồng má tôi đẩy lên bằng cửa sổ. Nhìn các anh bộ đội tả xung hữu đột, tích cực làm chủ chiến trường, tôi thầm nghĩ đến những anh bộ đội năm xưa hiền lành dễ thương biết bao ! Họ làm công tác dân vận rất tốt. Đến nhà ai, họ đều kính cẩn gọi các bà già bằng Mẹ
( Mẹ chiến sĩ ), và xưng con ngọt ngào.Họ gánh nước,tưới rau,bổ củi,làm mọi việc trong nhà như là một người con hiếu thảo.Nay thì họ không còn là một anh bộ đội thuần túy, mà họ trở thành những con buôn, những tên cướp, để lộ bộ mặt hung hãn,gian ác, bất chấp lễ nghĩa,bất chấp mọi thủ đoạn chỉ vì cái lợi cơm áo !


Gần nhà tôi ở tại Sài gòn là nhà một ông chủ tiệm vàng, đã bỏ nước ra đi trong dêm 30-4. Bộ đội đến tiếp quản căn nhà này.Họ ở được vài tháng thì có lệnh sang Cao Miên. Ngày ra đi, họ lấy mọi thứ như là quạt bàn, bàn ghế, tủ, ấm chén, và tháo mọi thứ như là quạt trần, cánh của, bàn ghế...và tháo ngay cả dồng hồ điện,đồng hồ nước mang theo.Hôm sau,toán bộ đội khác đến ở. Tôi không hiểu toán này sẽ xử trí ra sao với căn nhà này bởi vì tôi không dám dòm ngó nơi họ ở, và không biết hỏi ai những việc xảy ra ở hồi sau tấn kịch.

Tôi thầm nghĩ ngôi nhà này đã trở thành trại quân, là của chung của quân đội nhân dân,lớp người này đi , lớp sau sẽ đến, nếu lớp trưóc tháo gở tất cả, thì lớp sau ăn ở làm sao . Tại sao họ lại hành động như vậy ?

Sau này, các giáo sư đại học tại một building ở đường Trần Hưng Đạo phải ra đi để nơi này lại cho Thương nghiệp .Các giáo sư vốn mang đầu óc cũ, nên khi ra đi đều để lại y nguyên nhửng gì của nhà nước cung cấp. Nhưng chỉ một buổi sau ngày tiếp thu căn lầu này, mọi thứ đều biến mất, kể cả quạt trần, cửa sỗ, đồng hồ điện, nước !
Tôi quen một ông trung úy bộ đội người Nam hồi kết, tánh tình bộc trực, vui vẻ và rất nhạy bén ,tinh khôn trong việc làm ăn. Tôi đem thắc mắc của tôi ra hỏi. 
Ông vui vẻ đáp :
Trước khác, nay khác. Hồi trước,người bộ đội chỉ mang ba lô, nhưng nay ổn định,họ có nhà cửa, có chức vụ, có vợ con cho nên họ cần nhiều thứ, như là cái rương để đựng quần áo, cái xe đạp, xe gắn máy để di chuyển , tiền bạc để tiêu dùng. Nhà nước không cung cấp đủ cho họ, thì họ phải linh động,sáng tạo để tạo cho mình một đời sống vật chất cao hơn.
Nghe xong lời giải thích của ông, tôi rụng rời chân tay. Như vậy rõ là chủ nghĩa xã hội làm cho con người nghèo khổ, cán bộ bần cùng, cho nên dân chúng muôn đời vẫn đói rách. Và con đường thoát thân duy nhất của cán bộ là cướp bóc, tham nhũng, gian dối, lường gạt để tồn tại.

Để tự bào chửa về hành vi xấu xa của mình, người cộng sản nói : 'Cái khó, ló cái khôn ' là như thế đấy ! Nhưng cổ nhân đã nói :' Ăn trộm quen tay, ngủ ngày quen mắt ' . Đứa bé ban đầu ăn trộm gà,sau sẽ ăn trộm trâu bò, và đi xa nưã có thể cướp của giết người. Người cán bộ cộng sản ban đàu ăn cắp từng ký gạo, từng ký bột ngọt,đương nhiên khi trở thành giám đốc sẽ ăn cắp hàng triệu,hàng tỷ mà không bị trừng phạt vì mọi ngườì đều tham nhũng như nhau.Nếu kẻ nào đó bị báo chí phanh phui,bị ra tòa, dù ở tù trên giấy tờ,là vì họ làm ăn lộ liễu quá, cấp trên không thể lấy tay che mặt trời, cho nên phải xì ra một hai phần trăm của sự thực. Hoặc họ là kẻ bị sa thải, hoặc là kẻ thù của phe đang lên.


Trong chế độ phong kiến và tư bản, chỉ có một số ít tham nhũng, hối lộ, nhưng hầu hết cán bộ cọng sản đều tham ô, nhũng lạm vì đó là lẽ sống và tập quán. Càng nghèo, càng là cộng sãn, sự tham nhũng và tàn ác càng mạnh mẽ và tinh vi. Làm sao đổi mới cho một đãt nước mà người lãnh đạo hầu hết là già nua, ngu si và tham ô, tàn ác?


Tôi đã về thăm quê nhiều lần. Mọi người vô ra cỗng xe lửa và lên tàu thì bị khám xét kỹ càng.Nhưng ở chế độ cộng sản, con kiến đi không lọt mà con voi đi lọt. Người dân chỉ được mang vài ký gaọ đi đường nhưng bọn con buôn,phần lớn là vợ con đảng viên chở hàng tấn gạo thì vẫn được. Tôi đã từng thấy trước giờ mở cửa, từng đoàn thương binh chở hàng hoá vào ga một cách dễ dàng. 
Và tại Sàigòn, có nhiều xe chở hàng hóa mà đứng trên mui xe áp tải là nhửng anh thương binh mang súng đang ở trong tư thế sẵn sàng. Họ vượt qua đèn đỏ nhưng không một công an nào dám thổi còi ngăn xe lại. Và cũng trên nhiều chuyến ra quê hương miền Trung, chúng tôi đã nghe kể nhiều lần chuyện thương binh chận xe lấy tiền dân chúng . Và tại Sàigon, quân khu 7 đã lấy đãt xây nhà,bán nhà bán đãt lấy tiền bỏ túi. Tại đây ( khu vực Tân Sơn Nhất ) đã trở thành một quốc gia riêng biệt,nào chiếu phim sex, mở quán bia ôm...mà công an cùng ủy ban thành phố cũng chẳng làm gì được.

Tại Việt Nam ngày nay có nhiều thế lực nhưng hai thế lực mạnh nhất là công an và quân đội. Họ là nhửng Mafia độc quyền về kinh tế trong đó có độc quyền buôn lậu, kể cả buôn lậu ma tuý.
Làm sao đổi mới với một lực lượng tham nhũng, gian ác to lớn như thế ? Đất nước Việt Nam bao giờ cho hết nạn này ? 

VI. NGƯỜI BỐ LIỆT SĨ

Thôn Mai Sơn là một làng quê hẻo lánh, ở cạnh Trường Sơn. Thôn xóm cũng khá đông đúc khoảng vài trăm nóc gia. Dân chúng làm nghề hái củi, đốt than ,làm rẫy và làm nghề nông. Đất miền núi khô cằn, quanh năm đa số ăn khoai, bắp, sắn thay cơm. Cách thôn độ vài cây số là một ga nhỏ. Từ trước 1945 cho đến nay, ga Mai Sơn đã nổi danh trộm cướp. Ban đêm bọn cướp phục kích tại các chỗ vắng trên đường từ ga về. Họ ẩn nấp tại các khu đồi sim rập rạp, chờ khách từ ga về lẻ tẻ không đề phòng là họ xông ra cướp đồ đạc của cải của khách. Công an cũng làm ngơ vì không làm gì được vì trong công an cũng có nhiều đạo tặc. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Người trong huyện đã nghe danh ga Mai Sơn trộm cướp khiến cho họ một là không dám đi xe lửa, hai là nếu đi xe lửa,họ chọn xuống ga vào lúc ban ngày.Và dù đêm hay ngày, họ phải chờ nhau đi thành đoàn mới dám đi qua truông Mai Sơn.


Làng này văn học cũng khá, thầy Bảo dạy lớp nhất của tôi ở tại làng này. Lớp tôi đã đến nhà thầy một lần trong dịp thân mẫu của thầy tạ thế. Ngôi nhà của thầy là một nhà gạch lợp ngói khá khang trang. Trong vườn trồng ổi, mít và cau , cây trái sum sê.
Sửu và Khoai là hai học sinh cùng ở thôn Mai Sơn, cùng học trường trung học Vĩnh Hòa, là một trường cấp hai cách Mai Sơn vài cây số. Hai người cùng một lứa tuổi. Sửu mạnh khoẻ và đẹp trai hơn Khoai. Lúc học lớp bảy, cả hai cùng yêu Mai là một nữ sinh khá xinh đẹp, người thôn Thượng . Sửu chiếm được trái tim của Mai khiến cho Khoai đau khổ, ghen tức. 
Nhưng mối tình này cũng như hoa sớm nở chiều tàn vì gia đình Mai bỏ làng đi kinh tế mới tại Pleiku. Năm sau, cả mấy tỉnh miền Trung liên tiếp bị đói , mất mùa và bão lụt. Học sinh nghỉ học hàng loạt. Lúc này nhà nước cũng có chính sách sa thải công nhân viên. Các công xưởng chỉ có giám đốc và thủ kho là vào chánh ngạch, còn tất cả là hợp đồng. Trường cấp hai Vĩnh Hòa cũng chung số phận, một nửa trường đóng cửûa và một nửa giáo viên thất nghiệp. Sửu và Khoai cùng đi bán nước chè trên xe lửa. Sửu nhanh nhẹn hơn, kiếm được nhiều tiền hơn Khoai cho nên Khoai càng hận thù Sửu.

Bố Khoai là một bần cố nông, đã có thành tích đấu tố địa chủ thẳng tay, đuợc vào đảng viên từ năm 1953, hiện phụ trách ủy viên an ninh xã. Năm Khoai 17 tuổi , bố Khoai vận động cho Khoai làm việc xã đội. Khi viên xã đội trưởng lên làm việc tại huyện đội, Khoai leo lên chức xã đội trưởng, có nhiệm vụ trông coi quân sự trong xã, trong đó có việc bắt lính. Lúc này, Sửu được một người bà con mách nước, khuyên Sửu xin cho đi học Trường Công Nhân tại trung ương. Sửu thi và đậu nhưng khi kết quả gửi về xã thì bị bố con Khoai nhận chìm, họ ghi tên Sửu vào danh sách tân binh rồi tháng sau, Sửu đuợc trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, và phải lên đường đi Căm Pu Chia làm nghĩa vụ quốc tế.

Sửu và các trai trong xã được ở chung một trung đội, cứ ba người là một tổ tam tam, đi đâu cũng có nhau. Không biết trong hồ sơ của Sửu, xã ủy đã phê như thế nào mà viên chính ủy đại đội và viên trung đội trưởng luôn luôn nhìn Sửu bằng cặp mắt hận thù, hoặc thiếu thiện cảm.

Cuộc chiến ở Căm Phu Chia thật gay go. Ban ngày, họ là bạn đấy, nhưng ban đêm, bất cứ người Căm Pu Chia nào cũng sẵn sàng nhả đạn vào lính Việt. 
 Chiều xuống, lính Việt không dám ra khỏi trại. Ban ngày hành quân trong rừng, hễ vừa đặt lưng ngồi dựa gốc cây chưa đầy năm phút là quân PoL Pot đã bắn hạ. Họ dùng súng Trung cộng có ống ngắm rất chính xác. Khắp nơi là mìn, là bẫy đủ thứ. Nhất là mìn do Trung cộng chế tạo. Nó không nổ lớn, gây thiệt mạng, nhưng cái độc hiểm là gây cụt tay, cụt chân. Chết là hết chuyện nhưng không chết mới gây thiệt hại cho đối phương. Này nhé, khi một người chết, các đồng đội vẫn có thể xông lên, nhưng khi một người bị thương thì hai người khác phải tới giúp bạn, đưa bạn về trạm xá. Như vậy mỗi quả mìn loại đuợc ba tay súng. 
Một người chết nằm xuống người ta chỉ đào lỗ chôn, và thế là xong, nhưng khi một lính bị thương, nhà nước phải tốn thuốc men, cơm gạo nuôi nấng, và còn bao nhiêu chuyện khác nữa như là bác sĩ, y tá, trạm xá, xe chuyển vận?. Khi người thương binh xuất viện, xã hội phải mang gánh nặng. 
Nhà nước phải kiếm việc cho thương binh, hoặc phải nuôi nấng, trợ cấp nhà cửa,luơng thực, tiền bạc cho họ. Nếu không đủ, họ sẽ bất mãn. Họ ngang nhiên đi buôn lậu, mở sòng bài, chứa gái , cướp của hoặc đi biểu tình, phản đối, gây ra biết bao tệ trạng xã hội. Nhưng cái đau khổ cho lính Việt ở Căm Pu Chia là cô đơn, vì bốn bề là kẻ thù, dù bất cứ người Miên nào, dù là phe Pol Pot, phe Sihanouk hay phe Son Sen cũng đều muốn giết người Việt.

Trong một trận tập kích, quân Pol Pot đông bấp ba, tiêu diệt trọn đại đội của Sửu. Sửu và vài người bạn trong đại đội bị bắt làm tù binh. Sửu bị quân Pol Pot đánh đập, tra tấn dã man. Sửu đã chết đi sống lại không biết mấy phen. Sau một thời gian bị nhốt chuồng cọp, Sửu và các tù binh khác bị giam trong rừng. Ban ngày họ phải lên rừng đốn cây, hoặc trồng khoai sắn dưới roi vọt của những tên Khmer đỏ. Ban đêm về trại, họ bị nhốt lại dưới những hầm sâu có nắp đậy.

Ngày tháng trôi qua, Sửu bị bắt đã ba năm. Ở trong tù, Sửu không còn ý thức được thời gian, và Sửu cũng không biết một chút tin tức về thế giới bên ngoài. Cha me, anh em, làng xóm đã trở thành dĩ vẵng, một quá khứ xa xăm của muôn năm trước.

Một hôm, không biết quân Son Sen hay quân Sihanouk tấn công trại. Binh sĩ Khmer đỏ chống cự mãnh liệt nhưng cuối cùng phải rút lui vì thiệt hại quá lớn trước vũ lực quá mạnh của địch. Vì bị tấn công quá rát, quân Khmer đỏ đã không kịp giết tù binh trước khi rút. Nhưng cuộc tấn công đã làm một số tù nhân chết và bị thương. Sửu và các bạn tù khác nhân dịp tháo chạy. Cùng chạy trốn với Sửu có Nựu là một người ở thôn Lâm Hạ, là một thôn cách Mai Sơn vài ba cây số. Cả hai cứ ban ngày nấp trốn, ban đêm bương bải vượt suối trèo non mới về đến gần một làng xóm Miên. Họ vẫn tiếp tục ngày trốn, đêm di chuyển để tránh tai mắt dân Miên và Khmer đỏ. 
Một đêm nọ, cả hai đến một ngôi chùa khá lớn. Cả hai tính vào chùa kiếm chác. Họ tính vào trộm thức ăn, và vàng bạc. Những ngày sang đất Miên, Sửu và Nựu đã theo chân các đồng đội vào các chùa đập phá tượng Phật lấy vàng. Kẻ lấy chân, người lấy tay, bẻ thành từng miếng nhỏ cho dễ chia nhau, dễ cất giấu và mua bán. Sửu đã lấy được một số vàng bạc, châu báu để trong ba lô nhưng sau cuộc tấn công cuả Khmer đỏ, tài sản của anh thu vén đuợc đã mất sạch. 
Nay hai chàng cũng muốn trở lại nghề cũ, mong kiếm chác chút ít để sinh sống trong cơn túng quẫn. Hai anh buớc vào chùa đã nửa đêm nhưng khi buớc vào đại điện, họ bị phát giác. Nựu nhanh chân chạy thoát, riêng anh bị một nhà sư nắm lại, anh phải dùng dao đâm một nhát, nhà sư ngã xuống, máu tuôn như suối. Cả chùa xôn xao cứu chữa nhà sư, anh chạy thoát đuợc và theo kịp Nựu. Cả hai anh cứ ngày trốn, đêm đi, đến gần biên giới Việt Miên. Hai anh làm đủ nghề, gánh thuê, gặt mướn, nhiều khi trộm cướp nữa mới có đủ tiền mua vé xe lửa và sắm sửa hành trang về quê.


Ba năm trước, gia đình anh đã nhận được thư của đơn vị gửi về làng báo tin anh tử trận, và tên anh đã được nằm trong danh sách liệt sĩ của tỉnh. Theo luật lệ hiện hành, gia đình liệt sĩ mỗi quý ( ba tháng) được lãnh khoảng 30 ngàn đồng tương đương $3 CAN, nhưng vì tỉnh nghèo, huyện nghèo hoặc bị xén bớt, gia đình anh chỉ nhận được vài ký khoai, sắn hoặc bắp tượng trưng. Ngay cả các giáo viên cũng vậy. Trong khi các giáo viên cấp hai ở Sài gon lãnh hai trăm ngàn mỗi tháng, giáo viên cấp hai ở đây lãnh 30 kí lúa mỗi tháng ( tương đương 14 ký gạo). 
Có hơn không. Dẫu sao thì đó cũng là một niềm an ủi cho gia đình thương binh liệt sĩ. Gia đình Sửu chỉ có hai chị em. Chị Hợi của Sửu lấy chồng người cùng thôn, đã được hai con. Bố Sửu 60 tuổi, làm ruộng, lúc rảnh lên rừng hái củi về bán tại chợ Dinh. Nhưng ông còn một nghề nữa là thỉnh thoảng kiếm ăn tại ga. Một đêm như thường lệ, cha của Sửu phục kích tại truông. Trời mưa to, gió lớn. Ông thấy từ xa đi tới là một người mang áo mưa nhựa, đi xe đạp, vai mang hành lý cồng kềnh. Ông mừng rỡ vô cùng. Ông tiến tới và đánh liên tiếp chục gậy trên đầu khiến nạn nhân bể óc, máu và óc bắn tứ phía. Người đó ngã xuống, ông đem vùi nông xác xuống một cái hố. Ông lấy xe đạp và mọi thứ trên người kể cả áo quần, đồng hồ, viết máy rồi nhanh nhẹn ra về.

Vài tháng sau đó, Nựu tìm đến nhà Sửu. Anh chào bố Sửu rồi hỏi:
- Anh Sửu đâu rồi?
Bố Sửu ngạc nhiên vô cùng. Ông nói:
-Sửu đã tử trận từ lâu, ở nhà đã đuợc giấy đơn vị báo tin Sửu đã hy sinh trong khi làm nghĩa vụ quốc tế tại Kăm Pu Chia.
Nựu bèn thuật lại mọi chuyện, kể từ khi hai đứa ở chung một trung đội, rồi bị Khmer đỏ bắt làm tù binh, sau cả hai trốn thoát và cùng về quê một lần trên tàu Thống Nhất.
Bố Nựu hỏi:
- Các anh trốn thoát, tại sao lại không gửi thư về nhà?
Nựu đáp:
- Chúng con luôn luôn ở trong rừng, không có giấy bút, không có tem, không thấy bưu điện ở đâu cả, lúc cuối mua đuợc vé thì hối hả lên tàu, cho nên không thể nào viêt thư được.
Nựu nói tiếp:
- -Con và anh Sửu cùng xuống tàu Thống Nhất tại nhà ga Mai sơn lúc 12 giờ đêm 23 tháng 8, cách đây bốn tuần, lúc trời mưa gió. Thế thì anh Sửu đi đâu? Thật là lạ lùng!

Bố của Sửu ngẩn ngơ, choáng váng. Ông ra sân tiễn Nựu ra về. Ông nhìn thấy chiếc xe đạp của Nựu khóa để ngoài sân , rất giống chiếc xe chiến lợi phẩm của ông.
Ông hỏi:
-Xe này anh mua ở đâu?
Nựu đáp:
-Con và anh Sửu ghé một tiệm ở Sài Gòn, cùng mua hai chiếc xe đạp hiệu Giải Phóng, màu sắc, và kích thước giống nhau như đúc, giá mỗi chiếc 200 đồng, thật là rẻ..
Lúc này thì ông đã rõ. Vì chiếc xe đạp, vì mấy thước vải, vì cái đài, chính ông đã giết thằng con yêu quý của ông 

VII. PHIÊN TÒA CHUỘT

Mùa hè năm nay cả miền Nam nắng hạn. Các giếng nước khô cạn, ruộng đất nứt nẻ, cây cối cháy trụi. Trâu bò không có nước uống, chim chóc cũng không chút nước thấm giọng. Sông Nhà Bè gần cạn, chỉ còn là một giòng nước nho nhỏ, trên bờ bùn sình cùng bao nylon, giấy, lon, chai hiện lên dơ bẩn vô cùng. Nước cạn nhưng cũng đủ cho tụi trẻ bơi lội tung tăng. Tắm xong, chúng lội qua bên kia bờ chơi đùa thoải mái. Chơi chán chúng bơi trở về bên này. 
Sau mấy giờ bơi lội, chúng mặc quần áo lên bờ. Thằng Trung không quên mang theo khẩu súng bắn chim mà một ông bạn bố nó đã mua tặng làm quà sinh nhật cho Trung. Đây là một khẩu súng bắn chim do Trung quôc chế tạo.Nghe nói súng này đuợc Trung quốc chế tạo để xuât khẩu riêng sang Việt Nam. Mục đích của họ là muốn nhờ bọn trẻ Việt Nam tiêu diệt chim chóc, cũng như họ đã dùng mưu mua chân bò, rễ quế, mèo, và rắn để phá hoại kinh tế và môi trường Việt Nam. Súng rất nhẹ, bắn chim rất chính xác. Tháng đầu, chim ở Nhà Bè còn nhiều, nhưng sau vài tháng săn bắn, một số chim bị bắn chết, một số sợ hãi bay đi nơi khác. Thành thử đi hàng giờ, bọn chúng cũng chẳng tìm thấy một con chim sẻ. 
 Bọn chúng phải đi thật xa mới thấy có bóng chim. Chúng vào tận chùa, các vị sư ra đuổi chúng, chúng chửi lại, bảo sư là phản động, CIA, tay sai đế quôc Mỹ. Chúng ngứa tay, bắn cả gà, chó, và bồ câu của đồng bào. Chúng nó là những đứa bé khoảng 12 tuổi, học trường tiểu học quận Nhà Bè. Cha mẹ chúng là công an, cán bộ ngoài Bắc mới vào.Thằng Trung là con của ông trưởng chi công an Nhà Bè. Ông tên là Bình, năm nay 40 tuổi. 
Ở ngoài Bắc ông là thương binh được trở về làng, lương mỗi tháng vài chục bạc không đủ sống. Ông phải tham gia vào đám thương binh buôn lậu bằng đường xe lửa. Nhờ thế lực này, ông kiếm ăn đủ sống. Hằng tuần, ông mang hàng hóa từ Hà Nội vào Nghệ An, hoặc từ Nghệ An ra Lạng Sơn, buôn đồ Trung quốc về Hà Nội theo lệnh của anh Sáu. Mặc dầu đi xe lửa hay xe đò, công an kiểm soát rất gắt gao, riêng bọn ông, công an không dám làm khó dễ.
 Đoàn của ông tự do vô ra bến xe, nhà ga, và lên tàu. Trước giờ tàu chạy, đồng bào chưa được phép vào nhà ga, thì đoàn ông đã vào trước, đem hàng vào ga, lên tàu, nhét chặt cứng chỗ để hành lý và dưới gậm ghế, khiến khách không chỗ để hành lý và không chỗ gác chân. Bọn ông còn chiếm cả phòng vệ sinh. Một toa tàu thường có hai phòng vệ sinh, nay chỉ còn một, trong ngoài đầy phân và nước tiểu. Sau 1975, đoàn thương binh của ông vào nam buôn bán.

Lúc này thế lực của thương binh rất mạnh. Miền nam là miếng mồi rất ngon. Khắp nước, công an làm chủ ở thành thị, bao lợi lộc như thuế má, thương cảng, xí nghiệp, rạp hát, khách sạn, nhà hàng đêu do công an nắm. Bộ đội đổ xương máu, cuối cùng chỉ còn nấm mồ và chân tay cụt. Tình trạng phục viên của bộ đội đã được dân chúng mô tả rât bi thảm:
Đầu đường đại tá vá xe,
Cuối đường trung tá bán chè, bán xôi.


Bộ đội đổ xương máu cho đám công an hưởng lợi cho nên bộ đội rất căm thù công an, và bây giờ họ phải làm mọi cách để đền bù cho những năm gian khổ trước kia. Ngoài Bắc, thời trước, nhiều trận xô xát đã xảy ra giữa công an và bộ đội khiến trung ương phải can thiệp. 
Khoảng cuối 1975, một thằng cháu họ của ông ở Kampuchia về thăm nhà, mang theo mấy thước vải về cho cha mẹ. Khi về đến Phú Lâm, bị bọn công an tịch thu. Nó hêt lời năn nỉ nhưng bị bọn công an chửi bới nó. Nó nổi máu anh hùng, rút súng bắn chết mấy thằng công an. Bọn công an chống cự lại nhưng bị bọn bộ đội đông người nổ súng phản công. Bọn công an sợ hãi bỏ chạy về đồn. Sau chúng kéo hàng trăm tên tới cứu viện và tầm thù. Thằng cháu ông may có bạn cứu vào Tân Sơn Nhất, sau theo xe bộ đội mà ra Bắc. Sau vụ đó, hai bên công an và bộ đội thêm hận thù nhau, nhưng cũng từ đó, bọn công an bớt hống hách, bớt băt nạt mấy anh bộ đội đi phép lẻ tẻ.

Vì công an chiếm hết tiện nghi và quyền lợi cho nên bên bộ đội phải giành quyền sống bằng cách chiếm núi rừng, lấy gỗ đem bán ra ngoại quốc , và buôn hàng lậu từ các biên giới về phân phối toàn quốc để lấy tiền chia cho bộ đội từ ông cao cấp cho đến thương binh. Nhưng thương binh mang tiếng mà chẳng được miếng nào vì phần to và béo vẫn là ở các tướng tá cao cấp. Bọn thương binh như ông phải đem phần thân xác còn lại kinh doanh cho các ông lớn. Người ta tưởng rằng thương binh là một nhóm khủng bố. Cái đó cũng có. 
Chẳng qua đó là những anh thương binh hạng nặng, không làm được việc gì, hoặc lười biếng, tụ năm tụ ba nhậu nhẹt, hết tiền thì vác lựu đạn vào các nhà hàng nặc tiền, hoạc chận xe đò xin chút đỉnh. Còn bọn thương binh như ông Bình là loại thương binh tích cực, đã tham gia vào tổ chức kinh tài của quân đội. Họ là mặt nổi của quân đội, mà huy hiệu của binh chủng này là gậy gộc và chân tay cụt. Chính nhờ chân cụt, tay què mà họ được thong dong hành động trong những lãnh vực đặc biệt. Quân đội Nhân dân có nhiều việc phải làm. 
Những thương binh hạng khá được vào làm trong các công trường, như xây các đập thủy điện, kiến thiết các thành phố, ăn khối tiền, và lập các nông trường quôc doanh như trồng cà phê, tiêu, trà xuât khẩu, thu khối lợi. Bọn thương binh của ông hàng ngày chở hàng từ Kampuchia về Sài gòn. Ông là người can đảm lại lanh lợi, được cử làm trưởng đoàn. Mỗi tuần ông ba lần chở hàng Thái Lan từ Kampuchia về Sài gòn bằng hàng đoàn quân xa, trí đại liên trên mui xe, đi nghênh ngang giữa thành phố, công an chẳng dám lục soát vì không tên công an nào dám mó dái ngựa. Bọn công an rât khôn. Chúng chỉ chận bắt những anh bộ đội đi lẻ tẻ, xét giây tờ và tịch thu hàng hóa để bỏ túi. 
Chúng bây giờ giàu rồi, cần sống lâu để hưởng thụ, dại gì chọc tụi bộ đội dể ăn đạn, bỏ vàng bạc ai hưởng, và bỏ vợ con ai nuôi. Và bọn công an cao cấp, cũng biết rằng dĩ hòa vi quý, và hòa khí sinh tài. Họ đã hưởng quá nhiều, nước ao hồ không nên chạm nước sông, nên nhắm mắt bỏ qua cho bên quân đội kiếm chút cháo. Cuộc làm ăn của đám thương binh có cơ sở vững chăc vì họ có giây tờ di chuyển của quân đội, hàng hóa dù là buôn lậu cũng có kho tàng chắc chắn tại Tân Sơn Nhất. Cả một vùng Tân Sơn Nhất và phụ cận đều thuộc quyền kiểm soát của quân khu IV. Nhà cửa của bọn ngụy quân để lại rât nhiều, to và đẹp, anh em ta tha hồ ở. 
Những cán bộ cao cấp của quân khu đã đưa hàng vạn bà con thân thuộc ngoài Bắc vào lập căn cứ nơi đây.Tân Sơn Nhất nay là giang sơn của quân khu IV, là giang sơn của quân đội, của thương binh và bọn Băc Kỳ 75 chúng ta, cho nên bọn công an không dám đụng tới. 
Tân Sơn Nhât cũng là kho hàng công khai, nhà chứa công khai, vì nơi đây chúng ta đã kinh doanh lớn bằng mở các cửa hàng bia ôm, rạp chiếu phim con heo, và nhà ngủ loại bình dân, khách có thể thuê ngày hay thuê giờ, đủ hạng gái đẹp cho khách lựa chọn. Bọn công an đã nhiều lần muốn vào khám xét nhưng lệnh trên cho phép nổ súng nếu có kẻ dám xâm nhập vùng cấm địa. Bọn công an chịu thua, không lẽ im lặng, bất đắc dĩ họ phải kiện lên trung ương, nhưng trung ương cũng không muốn mât lòng phe quân đội, bởi vì các tướng tá trung ương đều được anh em thương binh 'chi' rất bảnh cho nên luôn ủng hộ phe ta.

Ông Bình có người cháu họ làm công an ở quận ba Sài gòn. Thỉnh thoảng ông đên thăm anh ta, đươc anh ta cho biêt miền nam cần rât nhiều công an vào phục vụ. Nhà nước cần tới ba trăm ngàn công an đặc biệt để theo dõi tín tức tình báo. Anh ta khuyên ông nên nạp đơn xin gia nhập công an, vì làm công an ngồi một chỗ có máy lạnh mà thu tiền còn hơn xông xáo nơi biên cương lửa đạn. Vì ông là một thiếu úy thương binh cho nên đơn của ông đuợc chấp thuận. Và cũng vì ông đã tốn gần hai lượng vàng để lo thủ tục đầu tiên. Đàn bà và ông già thì đuợc bố trí vào loại công an chìm, hàng ngày đạp xe hoặc đi bộ khắp nơi nghe ngóng.
Còn như ông là chiến sĩ Trường Sơn có thành tích nên được đảng cho vào công an thực thụ tại Nhà Bè, và được cấp nhà. Nhà này vốn là nhà của một gia đình vượt biên, nhà nươc tịch thu và giao cho ông. Lúc đầu mới vào, ông đi xe đạp. Sau ba tháng ông đi vespa, và sáu tháng nữa, ông đã mua thêm một xe Dream. Sau một năm, ông làm phó trưởng chi công an Nhà Bè. Và sau hai năm, ông được thăng trưởng chi công an Nhà Bè. Vợ ông ở ngoài Bắc làm nhân viên cửa hàng ăn của huyện. Nay vào nam làm trưởng chi thương nghiệp huyện Nhà Bè. 
Vợ ông cũng đuợc cấp phát một ngôi nhà của dân ngụy quân bỏ chạy ra nước ngoài. Và sau vài tháng, chính phủ thực thi chính sách hữu sản hóa cho cán bộ cao cấp, ngôi nhà được hóa giá ( bán rẻ), bà vợ ông cũng bán ngôi nhà cũ, lấy tiền bỏ vào ngân hàng một ít Lúc này ông cũng đã bán ngôi nhà cũ và lấy một ngôi nhà của một gia đình vượt biên khác, to lớn và đẹp đẽ hơn. Nhà này có vườn tược trồng đủ loại cây ăn trái, lại có hồ tắm rộng rãi.

Ngôi nhà vốn do một kiến trúc sư xây cất. Ông kiến trúc sư này là trước kia cùng sang Pháp và quen thân với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm. Ông đã che dấu và giúp đỡ hai ông khi hai ông hoạt động chống Pháp. Năm 1945, cộng sản giết hai ông, và họ cũng thủ tiêu luôn ông. Ít lâu sau, bà vợ ông bèn bán nhà cửa, lui về miền Hậu giang ẩn náu ở quê chồng. 
Lúc bấy giờ, ông giáo Bảo là người Phan Thiết, vào dạy học tại trường tiểu học Bàn Cờ Sài gòn và đã đến tuổi hưu trí. Ông đã nhiều lần về Nhà Bè thăm bạn bè nơi đây, thấy cảnh trí ở đây hữu tình, có sông rộng, có ruộng đồng, không khí trong lành, cảnh vật yên tĩnh cho nên đã bỏ tiền mua nhà của ông kiến trức sư cùng ít ruộng đất làm gia sản. Từ khi về hưu trí, ông giáo sống rất thanh nhàn và vui vẻ. Sáng dậy, ông dậy sớm uống trà hay cà phê, và coi báo, đọc sách. Chiều ông ra vườn chăm sóc vườn tược. 
Ông trồng cây mới, tưới bón cho rau và hoa quả. Ông bỏ rât nhiều thì giờ để uốn các cây thành con lân, con phượng. Bà giáo khi còn ở Sài gòn làm nghề buôn bán. Bà có một gian hàng bán vải tại chợ Tân Định. Sau khi dời nhà về Nhà Bè, bà lại tiếp tục buôn vải tại đây. Ông bà giáo sinh đưọc ba trai hai gái. Hai gái đã lấy chồng buôn bán và làm việc ở Sàigòn. 
Người con trai lớn làm đại úy, người con trai thứ làm quận trưởng và người con út làm thiếu úy. Ông đại úy và ông quận trưởng đã có vợ con, riêng ông thiếu úy còn độc thân. Ông đại úy và thiếu úy sống chung với bố mẹ. Khoảng 1970, ông giáo từ trần, bà giáo vẫn tiếp tục buôn bán. Sau ngày 30-4-1975, ông quận trưởng theo anh em bỏ ra nươc ngoài. Còn ông đại úy và thiếu úy vẫn ở với mẹ.

Khắp nơi, người ta vượt biên. Ông đại úy đem vợ con đi vượt biên, ông thiếu úy cũng muốn đi nhưng bà mẹ không cho. Thương mẹ ở một mình đơn chiếc, ông thiếu úy cũng dẹp chuyện đi xa. Sau khi ông đại úy ra đi, công an vào nhà làm biên bản tịch thu cửa nhà vì dây là nhà ngụy quân vượt biên. Lúc này ông Bình đã làm chi phó cảnh sát. Công an đuổi bà giáo ra khỏi nhà, tịch thu tài sản . Bà giáo uất ức, không chịu ra đi. Năm sáu công an xông vào kéo bà, bà tức giận đập đầu vào tường mà chết. Ông thiếu úy thương mẹ, lớn tiếng chửi mắng công an. Chúng xông lại đánh ông gần chết. Chúng giam ông và đưa ra tòa xử bắn về tộI phản động. Lúc này căn nhà này hoàn toàn vô chủ, công an tịch thu, và ông Bình được ở căn nhà này.

Lúc này, ông Bình lên tột đỉnh vinh hoa. Trong nhà ông đuợc trang bị đầy đủ, có TV màu , radio kiểu mới, điện thoại, computeur , đủ các loại đồ chơi đắt tiền và các máy chơi games mặc dầu lương tháng chỉ vài chục đồng, không đủ hút thuốc lá.

Ông trưởng chi công an làm ăn càng ngày càng khá. Hằng ngày ông cho bộ hạ mang đến mỗi cửa hàng ăn uống, mỗi chỗ nhậu năm muơi gói đậu phụng da cá, năm mươi gói kẹo cao su, bắt buộc phải tiêu thụ hết. Chủ nhà hàng thấy khách đến thì đưa ra, khách không ăn thì bọn chiêu đãi viên ăn hết, hoặc bỏ túi và khách phải trả một số tiền rất đắt. Ngoài ra, ông còn biết bao mối lợi khác to lớn vô cùng. Năm tháng qua, bố thằng Trung đã trở thành một nhà tư sản.

Sau khi tắm sông và đi bắn chim, bọn thằng Phước về nhà thằng Trung để bơi hồ tắm và chơi games. Thằng Trung được bạn bè yêu thích vì nó có nhiều đồ chơi hiện đại cho dù nó là đứa học lười, học kém nhất trong lớp. Tuy học kém, hàng tháng nó vẫn được điểm cao, duợc cả bảng danh dự bởi vì ông hiệu trưởng vốn là đồng hương với bố thằng Trung. Chơi chán, cả bọn tụ lại dưới gốc dừa hóng mát. Bỗng con chó cât tiếng sủa mấy tiếng rồi chạy ào vào nhà. Cả bọn nhìn theo thì thấy con chó đuổi theo mấy con chuột cống thiệt bự. Cả bọn vội đuổi theo .
 Chúng nó la hét rầm trời và hào hứng mở cuộc săn chuột. Đứa cầm gậy, cầm chổi chặn các ngõ ngách trong nhà thằng Trung. Một con chuột nhảy qua chân thằng Trung rồi chui vào dưới gậm giường. Thằng Tư vội chui vào gầm giường xua đuổi. Hai con chuột nhảy vọt ra. Cả bọn reo hò. Chúng đập lung tung và tiếp tục la hét khiến cho mấy con chuột sợ hãi chạy quýnh quáng. Con chó sủa om sòm và sục sạo khắp nơi. Thằng Năm suýt đập trúng con chuột. Thằng Sáu chạy tới dánh một gậy. Con chuột nằm lăn ra. Chuột kêu eng ech như heo kêu. Thằng Trung nhảy tới chụp trúng đuôi chuột, chuột quay lại cắn tay thằng Trung một miếng. Thằng Trung không chịu buông, lấy chân đè con chuột. 
Thằng Thành xông tới bắt con chuột trói lại. Cả bọn thắng lợi hoàn toàn, vui vẻ ca hát vang trời. Thằng Trung bèn đề nghị lập tòa án xử chuột. Cả bọn vui vẻ nhảy cà tửng.Thằng Trung đem chuột treo lên cây ổi cách nhà tắm chưa đầy một thước. Cả bọn vây xung quanh gốc cây. Thằng Trung được cả đám bầu làm chánh án. Thằng Trung sửa lại bộ tịch, bắt chước bố nó trong vai chánh án xử tử ông thiếu úy và mấy tên phản động, bước ra dõng dạc tuyên bố:

Thay mặt chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chánh án Lê Văn Trung tuyên bố xử tử phản động Đinh Văn Chuột đã phạm tội chống đối cách mạng.
Cả bọn ngồi dưới hô to: Xử tử, xử tử! Đả đảo Đinh Văn Chuột! Đả đảo Đinh Văn Chuột!

Thằng Thành em thằng Trung chạy vào nhà tắm rót một chai xăng nhỏ rưới vào mình chuột. Thằng Phước lấy bật lửa Trung quốc châm lửa. Lửa cháy rần rần bốc lên cao làm cháy dây cột chuột. Con chuột vùng chạy thoát, mang theo một dòng lửa đỏ rực. Cả bọn chạy theo. Con chuột cuống cuồng chạy vào nhà tắm, bỗng từ nhà tắm xăng bốc lên cháy ầm ầm và phát sanh những tiếng nổ rất lớn. Lửa đỏ bốc cao và tỏa rộng làm bay nhà tắm và đốt cháy cả bọn thằng Trung trong nháy mắt. Lửa cháy lên cao, từ nhà tắm cháy sang nhà bếp và nhà lớn. Khi xe chửa lửa đến thì căn nhà rộng rãi của thằng Trung đã hóa thành đống tro tàn, thêm vào đó xác bảy đứa trẻ, và xác của ngưòi mẹ già của ông Bính, nay 60 tuổi lại mù lòa không chạy thoát được.

Bố thằng Trung là trưởng chi công an, mẹ nó là trưởng chi thương nghiệp, hai người là cán bộ cao cấp của huyện nên được tiêu chuẩn xăng dầu rất cao, mỗi tháng hơn 100 lít xăng và khoảng 100 lít dầu hôi. Số xăng dầu thừa thải quá nhiều, mỗi tháng ông đem bán cho tụi con buôn xăng lẻ ngồi đầu đường cũng bộn tiền. Ông Bình vốn là người cẩn thận, ông đã đem mấy thùng xăng để trong nhà tắm, còn dầu hôi bỏ trong bếp nhưng thằng Thành khi lấy xăng đã quên đậy nắp cho nên con chuột mang lửa chạy vào đã đốt cháy cả gia sản ông. Nghe nói cuộc hỏa tai này đã làm cho ông cháy mất hơn mấy trăm ngàn đô la là số tiền tích trử trong bao năm làm ăn tại đất Sàigòn của hai vợ chồng ông. Nhưng đau đớn nhất là ông Bình đã mất hai đứa con và một mẹ già!

  VIII. XUÂN NÀY CHÁU KHÔNG VỀ 
Chiều thứ bảy, đường phố Sài gòn đông đúc người qua lại. Con đường Sài gòn ra ngoại ô hơi vắng vì phần lớn cán bộ và nhân viên trong thành phố đã nghỉ cuối tuần, không phải bịt mặt mũi đi xe từ Sài gòn lên Thủ Đức, Biên Hòa làm việc. Khoảng ba giờ chiều, bỗng một đoàn xe gắn máy chạy từ Sài gòn về Thủ Đức vòng qua xa lộ trở về Sài gòn. Đoàn xe rât đông độ vài chục chiếc, chạy nhanh như bay khiến khách đi dường gồm người đi xe đạp và gắn máy sợ hãi phải ép vào bên đường. Đoàn này qua đi, lát sau lại có đoàn khác tiếp tục đuổi theo đoàn trước. Trên xe, gồm những thiếu niên khoảng 16, 18 tuổi. Tất cả cắm cúi cho xe chạy thật nhanh dường như không chú ý đến khách đi đường. Một lát sau có xe công an đuổi theo, nhưng họ đã đi xa hoặc biến mất rồi. Đằng sau họ, môt làn bụi dày bốc lên mỏng dần rồi tan biến vào buổi chiều ngoại ô. Mãy ông công an đậu xe lại bên đường một hồi rồi quay về Sài gòn.


Bê ở với bà ngoại. Bê không biết mặt má và ba của Bê. Bà ngoại nuôi Bê từ nhỏ,và bà không bao giờ nói đến ba má của Bê. Có lẽ Bê là đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ. Có thể Bê là đứa con hoang, vô thừa nhận. Có thể má của Bê đang ở một phương trời nào đó và đã quên đứa con lạc loài của mình. Cũng có thể ngoại dã nhặt Bê ngoài đường đem về nuôi. 
Nhiều lần Bê hỏi ba má em là ai nhưng ngoại im lặng rất lâu rồi đáp: ' Tía má mày chết rồi!'' Trong nhà chỉ có hai bà cháu. Hai bà cháu ở trong một túp lều tranh tận Xóm Củi. Bà ngoại của Bê làm nghề bán trứng vịt tại chợ Xóm Củi. Bà bán hàng từ sáng đến chiều mới về. Buổi sáng, trước khi đi chợ, ngoại đã nấu sẵn cơm cá mang ra chợ ăn và để phần cơm cho Bê ăn sáng và ăn trưa. Chiều về ngoại nấu cơm canh tươm tất hơn để cho hai bà cháu cùng ăn. Bà cho Bê đến trường nhưng Bê bỏ học, theo bọn trẻ vô gia cư đi đá banh hay đi tắm sông. Chơi chán, cả đám tổ chức đánh lộn với đám trẻ bên Chợ Quán. 
Mãy tháng trước, ngoại ngât xỉu nên mây bà ngoài chợ chở bà vào nhà thương Chợ Quán. Lần đó, Bê vào bệnh viện ở với ngoại một tuần. Hai bà cháu cùng ăn phần ăn do nhà thương cung cấp, thiếu thì Bê chạy ra ngoài cổng bệnh viện mua bánh mì hay cơm cháo mà ăn thêm. Tối trải báo nằm dưới sàn nhà bệnh viện. Buổi chiều, Bê rảo chơi ngoài bệnh viện. Mãy đứa bé cùng tuổi với Bê, thấy Bê ở xa đến, tìm cách bắt nạt. Bê chống cự lại, đánh cho bọn chúng chạy dài. Hôm sau bọn chúng tăng viện, Bê thua phải rút vào bệnh viện cố thủ. Sau khi ra bệnh viện, Bê rủ bọn trẻ sang Chợ Quán tầm thù. 
Cả bọn đánh nhau mãi, trận thắng trận thua, không bên nào nhịn bên nào. Vì có lòng can đảm, Bê được bọn trẻ tôn làm anh Hai. Danh tiếng của Bê lẫy lừng, được anh Tám, một tay anh chị kết nạp Bê làm bộ hạ. Từ đó Bê theo anh Tám canh gác sòng bạc, hay giao hàng lậu. Từ đó Bê có tiền rủng rỉnh. Bê mua một chiếc xe đạp để đi chơi. Sau Bê mua một chiếc Honda cũ . Nhưng tính ăn chơi xa xỉ, được bao nhiêu tiền, Bê đem nướng vào sòng bài hay ăn nhậu cùng bạn bè. 
Bê chưa bao giờ biếu ngoại được món tiền nhỏ cho ngoại vui lòng. Cuộc đời vui vẻ cứ tiếp tục như thế thì ngày 30-4-75 xảy đến. Lúc bấy giờ Bê đã 16 tuổi. Bê chơi thân với mấy cậu con cán bộ ngoài bắc vào. Cả bọn rủ nhau đua xe gắn máy. Trong vài trận đua thân hữu, Bê đã tỏ ra xuât săc, được cả bọn giơi thiệu với các công tử ngoài quận Nhất, Sài gòn. Đây là những tay đua chuyên nghiệp đã nổi tiếng ngoài Hà Nội. Họ đã tổ chức đánh cá với nhau tới hàng chục cây vàng trong mỗi trận đua. Tay đua hạng nhất được giải thưởng năm hay muời cây vàng. Và đó là một quyến rũ đối với những thiếu niên thành phố say tốc độ.

Hàng ngày Bê luyện tập một mình. Cũng uốn éo, bay lượn đủ kiểu trình diễn mà bọn chúng thấy trên TV ngoại quốc.Hàng tuần, Bê theo bọn trẻ Xóm Củi luyện tập. Cuối tuần cả bọn ra Sài gòn tập dượt chung. Bọn trẻ ở Sai gòn trước đây đã từng làm mưa làm gió tại Hà Nội. Chúng là con các bộ trưởng, giám đốc, công an bắt chúng rồi cũng phải thả ra vì không muốn mất lòng cấp trên. Nay chúng vào Sài gòn cùng bố mẹ, và tiếp tục trò chơi hấp dẫn này. Không những là một trò chơi mà còn là một mối lợi. Hàng tháng chúng thu tiền cá độ cũng đuợc mỗi đứa vài cây vàng. Đây là một sòng bạc lưu động, nguời ngoài không ai biết người tổ chức là ai, ngoại trừ mấy đứa thân cận ban tổ chức.


Sài gòn cuối tuần, không khí ngoại ô tương đối yên tĩnh. Thỉnh thoảng mới có một vài chiếc xe đò , xe đạp hay xe gắn máy chạy trên xa lộ Thủ Đức. Bỗng từ Sài gòn, khói bụi bốc cao, tiếng xe gắn máy nổ ầm ầm và bóng dáng các tử thần xuất hiện trên xa lộ. Mọi người hốt hoảng dạt vào lề. Khi đoàn xe lướt qua, người ta nghe một tiếng va chạm rùng rợn và tiêng thét hãi hùng, và trong đám xe cộ, hai thân hình ngã xuống. 
Đoàn xe đua thản nhiên đi qua không dừng lại, và biến mất. Khách đi đường dừng lại, kêu xe xích lô mang hai người bị thương vào bệnh viện. Nghe đâu khi đưa họ vào bệnh viện hai người đã tăt thở. Hai người này là Lan và Minh là hai sinh viên trường Đại Học Nông Nghiệp Thủ Đức. Hàng ngày hai người đi Honda từ Sài gòn lên Thủ Đức học. Hai người yêu nhau và ước định sau khi ra trường sẽ làm lễ thành hôn. Hôm nay, xe Honda của Lan bị hỏng máy, Minh phải đến chở Lan đi học. Vì tuần tới là ngày thi, hai cô cậu sinh viên phải ở lại trường ôn tập. Khi ra về đến xa lộ thì đã 7 giờ chiều. Họ gặp tai nạn và vĩnh viễn đi vào hư không.

Ngoại rất bực mình vì suốt ngày Bê chỉ đi chơi và đua xe. It lâu sau, nhà nước cấm buôn bán cá thể. Các cửa hàng vàng, kim cưong, mỹ phẩm, các sạp vải bị đóng cửa, tài sản bị tịch thu, và chủ nhân bị tù về tội tư sản. Và nghề buôn thúng bán mẹt ngoài chợ cũng bị khó khăn. Bà ngoại của Bê cũng cùng chung số phận. Bà phải ở nhà, không được ra chợ buôn bán. Muốn buôn bán, phải đăng ký, nộp một số tiền lớn, và phải đưọc ủy ban duyệt xét và chứng nhận là gia dình thương binh liệt sĩ, gia dình có công với cách mạng, gia đình cán bộ. 
Tiền bạc và những tước vị như vậy thì bà không có cho nên bà phải ở nhà nhịn đói. Còn được bao nhiêu tiền bạc lấy ra ăn dần. Nếu hết tiền thì đi ăn xin. Bà chẳng lo cho bà mà chỉ lo cho Bê, song Bê quen thói rong chơi từ nhỏ, chẳng lo gì đến tương lai. Ngoại đã cho tiền Bê mua xe tốt để đi học nghề điện với hy vọng là sau một thời gian học, Bê có thể đi làm và nuôi thân. Sau này bà già yếu thì Bê có thể tự lập, bà không phải lo lắng cho nó. Thế mà nó đem tiền học phí đi nạp cho bọn đua xe, và suôt ngày đua xe, chẳng học gì cả. Bà đã la mắng nó, nó bỏ đi ít bữa lại trở về. 
Bà nghĩ rằng có lẽ nghề điện khó học, hoặc người ta hành hạ nó, mắng chửi nó cho nên nó bỏ học. Bà lại bỏ tiền ra cho nó theo ông Sáu vào hợp tác xã gỗ, học đóng bàn đóng ghế. Nhưng đuợc vài ba ngày, nó không chịu mùi gỗ, không muốn cầm cái búa, cái cưa, mà chỉ muốn bay lưọn trên xa lộ. Nó không thích làm thầy giáo, làm thư ký, làm công nhân mà chỉ thích làm anh hùng xa lộ. Nó tâm đắc hết sức với bọn trẻ Bắc Kỳ 75 nhất là việc đua xe. Hồi trươc nó đã học thói chửi thề, nay theo bọn Bắc kỳ 75, nó càng chửi thề, văng tục luôn miệng. 
Bà răn dạy nó, nó chửi thề rồi bỏ đi. Sau khi ngoại bị Nhà nước cấm buôn bán, nên ngày nào bà cũng có nhà, và phải thường xuyên đối diện với Bê và lũ bạn bè hư hỏng của nó. Bà đã bực mình vì nhà nước cấm bà buôn bán, nay lại bực mình về việc thằng Bê rong chơi, không học ăn học làm với người ta. Bà la mắng nó, nó nói: ''Ngoại dừng lo, tết này đời con sẽ thay đổi. Con sẽ không thèm ở căn nhà tồi tệ này nữa đâu.''

Thằng Bê mơ ước cao xa. Nó có tâm hồn bay bổng. Nó là con chim phượng hoàng bay lượn trên không trung, chứ không là con ngựa kéo xe, con bò kéo cày hoặc con gà ăn quẩn cối xay. Nó là tay đua hạng nhất trong thành phố.
 Không đứa trẻ nào lanh lợi, can trường và táo bạo như nó. Nó tính năm nay nó sẽ chiếm giải nhất trong dịp tết sắp tới. Không nhất thì nhì. Nghe thằng Bảy nói tiền cá độ lên đến mấy trăm cây vàng, và giải thưởng hạng nhât là hai mươi cây vàng, hạng nhì mười lăm cây và hạng ba là mười cây. Đó là một mục tiêu hấp dẫn. Vừa nghe nói là đã mê tơi! Nó càng ra sức tập luyện. Hể mở măt ra là nó đã xách xe đi cho đến tối mịt mới về. Bà ngoại rầy la, nó nói: ''Ngoại đừng lo. Thằng này không phải là đứa tầm thường. Rồi ngoại coi, con sẽ có rât nhiêu tiền. Con làm một buổi bằng thiên hạ làm cả đời. Ngoại yên chí, dừng lo lắng gì. Sau Têt là con không còn ở về căn nhà lụp xụp này nữa đâu!''

Không riêng Bê tính toán, mà rất nhiều người tính toán. Ban tổ chức hy vọng tết này sẽ thu khoảng trăm cây vàng tiền lời. Còn bọn đàn em, đứa nào cũng hy vọng thắng hạng nhât, nhì ba. Chúng lo ngại thằng Bê nhất. Nhóm thằng Tám có sáu thằng, và thằng Tám làm quân sư tuyên bố : ''Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu.'' Còn thằng Bê độc lập, một mình một xe, không cần cấu kêt với thằng nào.

Ngày thứ bảy 26 tháng chạp đã đến. Cả bọn náo nức chờ đợi. Xe tập trung tại cầu Phan Thanh Giản, nghe hiệu lệnh ba phát súng là cả bọn nổ máy, xả ga. Xe chạy qua xa lộ Thủ Đức, đến Biên Hòa, qua rừng cao su. Xe thằng Bê dẫn đầu . Nöi đây vắng vẻ. Bọn thằng Tám bám sát thằng Bê. Trong lúc gay cấn thì đàng sau tụi nó, một chiếc xe du lịch màu xanh chạy tới. Xe bóp còi liên tục đòi vượt. Thằng Bê kiên trì giữ tốc độ và không nhường đường. Xe sau bóp còi liên tục. Thằng Bê cáu tiết xả ga thêm, và chặn đầu không cho xe du lịch vượt. 
Xe du lịch tăng tốc độ, chạy song song với xe của Bê. Hai xe chạy ngang nhau chẳng xe nào chịu nhường xe nào. Cuộc đua xe gắn máy trở thành cuộc đua xe du lịch và xe gắn máy. Không biết thằng Bê loạng quạng hay xe du lịch cố ý chèn ép, khiến xe du lịch đụng mạnh vào xe gắn máy của thằng Bê, khiến thằng Bê mất thăng bằng, té lăn nhào, gẫy cổ bể đầu mà chết. Cả bọn vẫn tiếp tục hướng về trước. Hai ba giờ sau, một chuyến xe Sài gòn, Vũng Tàu chạy qua, phát giác một tử thi giữa đường, và báo cho cảnh sát. Công việc của cảnh sát là lập bản báo cáo, tịch thu xe, và đưa xác vào nhà thương. Chuyến đó, phe thằng Tám đại thắng chiếm giải nhất và giải nhì.

Bà ngoại của Bê chết ngất khi nghe tin thằng Bê gặp tai nạn xe cộ. Có người xui bà đi kiện nhưng bà biết thân phận mình nhỏ nhoi, chẳng làm gì đuợc các công tử của các đại thần trong triều. Công an Xóm Củi và công an thành phố đến điều tra và bảo đó là một tai nạn giao thông bình thường, cháu bà lái xe quá tốc độ, bị xe tải đụng chêt rồi bỏ chạy. Hiện nay công an đang điều tra thủ phạm. Lúc nào tìm ra thủ phạm, họ sẽ tin cho bà hay. Bà vừa khóc vừa cám ơn họ.
Tết đó, bà ngoại ăn Tết một mình, thằng Bê không trở về căn nhà lụp xụp của bà nữa.

 

IX. VỊ KHÁCH QUÝ

Không khí trường Đại Học Sư Phạm vui nhộn, ồn ào khác hẳn ngày thường. Đồng chí Tân, hiệu trưởng trường Đại Học Sư Phạm chạy vô chạy ra, vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng. Xung quanh đồng chí Tân, một số cán bộ thân tín cũng vẻ mặt quan trọng, chạy vô chạy ra như gà mắc đẻ. Từ ngoài cổng trường, người ta đã treo cờ đở sao vàng và cờ búa liềm. Những bức ảnh Mac, Lenin cũng được treo khắp giảng đường. Sinh viên các lớp được lệnh phải tề tựu tại giảng đường từ 6 giờ sáng.


Sau ngày 30-4-1975, đồng chí Tân được lệnh cử vào Sài gòn làm phó ban quân quản trường Đại Học Văn Khoa. Ít lâu sau đồng chí Tân được điều sang làm hiệu trưởng trường Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh. Trường này, trước kia là một phần của trường Pétrus Ký, đường Cộng Hòa. Sau 1975, bộ giáo dục ngoài bắc vào tiếp thu các viện đại học trong Nam. Đồng chí Văn, hiệu trưởng tiền nhiệm vốn là người khôn lanh đã xin lấy viện đại học Vạn Hạnh làm cơ sở hai của trường đại học Sư Phạm. Đồng chí đã trao đổi cùng ban tổ chức bộ theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Trường Đại Học sẽ có lấy viện đại học Vạn Hạnh, và chịu thu nhận một số người của ban tổ chức bộ vào làm sinh viên, làm thầy giáo, làm cán bộ và làm công tác lặt vặt trong trường. 
Lúc này ngoài bắc thất nghiệp đông, kìếm được một chỗ làm rất khó. Nay giải phóng miền Nam là một cơ hội bằng vàng để đưa những người xã hội chủ nghĩa vào nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghe nói trong nam rất tự do sung sướng, hàng hóa ê hề, gái nam rất đẹp cho nên nhiều chàng đành tốn tiền xin vào nam công tác, hoặc sinh sống, và điều kiện duy nhất là có giấy thu nhận công tác để đăng ký hộ khẩu. Một số được móc nối vào nam theo con đường bộ giáo dục. 
Sau khi vào Nam nhận công tác, muốn được bố trí chỗ ở, các đồng chí này cũng phải biết điều. Lãy cớ rằng đa số cán bộ giảng dạy từ băc vào không có chỗ ở, trường đã lấy cơ sở 2 làm cư xá cho giáo viên trường đại học sư phạm. Vì vậy, viện đại học Vạn Hạnh ở đường Trương Minh Giảng đã trở thành một cư xá hỗn tạp, chỉ một hai năm sau là xuống cấp, sân trường ngập nước, đầy rác, vỏ chai và giấy loại.Các hành lang thì treo đầy aó thun và quần bộ đội.
Thanh thế đồng chí Văn càng ngày càng lớn, uy danh càng ngày càng cao đồn ra đến ngoài bắc. Nhưng thói đời 'trâu cột ghét trâu ăn', có người tố cáo, đồng chí Văn mất chức, ngồi tù, cho nên đồng chí Tân được đổi về thế chỗ.

Đồng chí Tân là người Huế, đẹp trai, nghe nói anh của đồng chí cũng là một nhà văn, sau vụ tích cực đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm đã được vinh thăng làm giáo viên cấp ba! Đồng chí Tân hơn người ở chỗ là hay cười nói vui vẻ. Có người đã gọi Tân là thằng cộng sản biết cười! Nhưng xuất sắc nhất là đồng chí Tân là thuộc thơ Tố Hữu. Bất cứ lúc nào, ngồi ở đâu, có dịp là đồng chí đọc thơ Tố Hữu! Có lẽ các ông Mohamet cũng chưa thuộc kinh Coran bằng đồng chí Tân thuộc thơ Tố Hữu. Tân thường khoe rằng anh là đồ đệ thân tín của giáo sư Hoàng Xuân Nhị. Có lẽ nhờ tả phù hữu bật, nhất là nhờ tài học thuộc thơ Tố Hữu mà đường công danh của Tân lên như diều.


Chả là hai tuần trước, hiệu trưởng Tân được một cú điện thoại của đại diện bộ giáo dục tại Sài gòn báo rằng toà lãnh sự Liên Xô tại Sài gòn cho biết sẽ có một vị khách quý viếng thăm trường đại học sư phạm. Vị đại diện bộ căn dặn Tân phải đón tiếp chu đáo vị khách này. Nghĩ rằng cuộc thăm viếng này rất quan trọng, tương lai nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và đại học Sư Phạm đều nhờ vào cuộc thăm viếng này, Tân liền hội các cán bộ nòng cốt của trường để chuẩn bị đón tiếp. Tất cả đều nhất trí đón tiếp vị quý khách tại cơ sở I, và lấy giảng đường A của ban Khoa Học làm nơi tụ họp. Sau cuộc họp, việc phân chia công tác được tiến hành. Hai ba đồng chí phụ trách treo cờ, treo ảnh, dán khẩu hiệu, chưng hoa, và quét dọn. Một số được giao việc bài trí micro, và sân khấu. Một số được giao công tác văn nghệ.
 Các sinh viên được lệnh gấp rút tổ chức ban nhạc để chào mừng quý khách. Họ sợ ban nhạc nhà trường non yếu cho nên đã mượn theo một vài ca sĩ, nhạc sĩ ngoài. Và nhà trường đã hứa sẽ trả thù lao trọng hậu cho họ.Để vui liên hoan, theo thông lệ, nhà trường đã mua la de đãi đàng khách quý và các cán bộ nhà trường. Trong hơn một tuần, mọi việc chuẩn bị đã gần như hoàn tất. Nhưng còn một việc quan trọng nhất, là ai sẽ đứng ra nói chuyện với vị khách người Nga? 
Đồng chí Tân không biết tiếng Nga. Những giáo sư đã du học Nga cũng không nói được tiếng Nga vì hồi sang Nga, các ông chỉ học qua thông dịch viên người Việt, học xong trả sách lại cho nhà trường , trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng( Việt Nam cũng bắt chước Liên Xô, phát sách cho học sinh, hết niên khóa, trường thu sách lại). Một số giáo sư học cấp tốc tiếng Nga tại Hà Nội vài tháng rồi vào Nam dạy. Dạy xong, lại ra Hà Nội học khóa tiếp, rồi lại vào dạy tiếp. 
Cứ như thế cho nên rất ít người thông thạo tiếng Nga. Vậy thì làm sao? Trường tìm kiếm khắp nơi thì trên bộ đã có người hứa sẽ đến gíúp việc thông dịch.Trong chế độ ta ai cũng phải tỏ ra đỏ hơn trước và đỏ hơn người khác. Trong việc này,từ hiệu trưởng cho đến sinh viên đều phải nhiệt tình nếu không thì sẽ bị những con mắt theo dõi báo cáo, và cuộc đời sẽ đen tối như đêm ba mươi! 
Và đây là một công tác vô cùng quan trọng, liên quan đến tương lai đất nước và tương lai của trường, của cán bộ và sinh viên. Liên Xô đã viện trợ ta kháng chiến thành công và sẽ viện trợ ta tái thiết. Biết đâu, Liên Xô sẽ chú ý đến sinh viên Sư Phạm, xây trường sở, sẽ cho học bổng du học Liên Xô. Ai cũng tính toán và hy vọng. Nếu đón tiếp không chu đáo,Liên Xô sẽ bất bình và viện bộ sẽ trừng phạt trường. Trường sẽ bị đóng cửa, hiệu trưởng và sinh viên sẽ bị gậy ra đường.


Để tăng phần long trọng, Tân gửi giấy mời đến một số bạn bè, và cơ quan liên hệ như đại diện ban quân quản trường Văn Khoa, trường Khoa học. May quá, công việc đã chín phần mỹ mãn, đồng chí Tân vô cùng sung sướng. Mãy mươi năm chống Mỹ cứu nước, dù là đồng chí anh em, chưa bao giờ người Nga đặt chân đến các trường học Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một đồng chí Sô Viết lại hạ cố đến một ngôi trường Việt Nam. Tân rất cảm động. Cái vinh dự lịch sử này lại rơi vào Tân! Có lẽ thần tài đã gõ cửa Tân. Tân mơ màng thấy đồng chí Sô Viết tiến tới bắt tay Tân, ca tụng trường đại học Sư Phạm, ban huy chương Sô Viết cho Tân, mời Tân sang tham quan Liên Bang Xô Viết! Ôi sung sướng biết bao! Trước đây, Tân hằng mơ ước đi học Liên Xô nhưng sức cô thế yếu, Tân không thể đương cự với con cháu của các quan lớn trong triều. Nay nếu được đi Nga thì cũng vớt vát được ít nhiều! Có còn hơn không! Tân có thể đi thăm mộ Lênin, và khi về mang rất nhiều hàng hóa, nào TV, tủ lạnh, xe đạp, xe gắn máy, nào quần bò, áo phong, lớp cho vợ con, lớp đem bán sẽ được khối tiền! Ôi hạnh phúc biết bao ! Và trong bộ giáo dục, khối thằng ghen tức mà chết! Biết đâu sau việc này, Tân chẳng trở thành ngôi sao sáng trong đảng bộ nhà trường, và trở thành lãnh tụ văn giáo thay thế Tố Hữu!

Ngày X đã đến . Trường Đại Học Sư Phạm vui như ngày hội. Tất cả sinh viên đều có mặt tại hội trường từ 6 giờ sáng. Người lo treo cờ, treo ảnh, kẻ lo trang trí hội trường. Tận ngoài cổng, người ta đã chưng bông kết tụ như đám cưới . Trong hội trường, khẩu hiệu lớn nhất được kẻ tiếng Việt lẫn tiếng Nga:
Chào Mừng Quý Khách.

Ban nhạc dã đứng sẵn trên bục, đang tập dượt sôi động. Không khí thật vui vẻ chưa từng thấy. Mười giờ thì quan khách lục tục đến.
Mười một giờ, quý khách vẫn chưa đến.
Mười hai giờ, quý khách vẫn chưa đến. Gọi điện lên đại diện bộ thì người ta bảo cứ chờ. Một giờ, vị thượng khách vẫn vắng bóng.


Kìa! Một chiếc xe chạy từ ngoài cổng vào. Một chiếc xe mui trần treo cờ búa liềm tiến thẳng vào trường đại học sư phạm. Quan khách và sinh viên trong hội trường A reo hò mừng rỡ. Sân trường hẹp, lối vào ngắn. Xe chạy vào một đoạn khoảng nửa đường rồi lui ra đi thẳng. Trên xe, một cô bé người Âu mắt xanh tóc vàng khoảng 10 tuổi nhưng to lớn bằng con gái Việt Nam mười lăm tuổi. ngồi chễm chệ ở băng sau. Đằng trước một tài xế Việt Nam bé nhỏ, khúm núm. Chỉ có vậy. Mọi người chưng hửng. Quan to, quan nhỏ đứng lặng một hồi, không ai bảo nhau đồng lủi thủi ra về.


Mấy ngày hôm sau có người thông thạo kể rằng ái nữ của viên lãnh sự Nga không biết tại sao lại nổi hứng muốn đi thăm trường đại học Sư Phạm. Có thể cô đọc báo Nga thấy khen ngợi ngành sư phạm Việt Nam; có thể trí tưởng tượng của cô cho rằng trường đại học ở đây do Mỹ xây cất rất lớn , hoặc là trường đại học sư phạm Sàigon cũng giống như bên Phi Châu có thể thấy hưou, khỉ, ngựa vằn, sư tử., hoặc nghe ai nói gì đó nên đòi bố cho tài xế lái xe đi thăm một vòng cho biết. Có lẽ khi đến cổng trường nhìn vào thấy trường cổ lổ, nhỏ bé, cũ kỹ , không thấy ngựa vằn, hưou cao cổ và khỉ đột như trong tưởng tượng nên chán nản mà ra lệnh cho tài xế quay về. Câu chuyện đơn giản là vậy, không có gì phải ầm ĩ!

X. MỘT THỜI THI NHẠC

Vào một ngày cuối thu năm l95..., các văn nghệ sĩ ở các chiến khu miền Bắc được lệnh mang khăn gói lên đưòng đi Việt Bắc dự khóa rèn cán chỉnh quân. Tham dự khóa này có Văn Cao,Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan , Đặng Đình Hưng (bố Đặng Thái Sơn), Tô Vũ...

Trong ngày đầu tiên, một cán bộ cao cấp lên thuyết trình vể tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân châu Phi. Trong lúc viên cán bộ đang thao thao bất tuyệt ở trên bàn chủ tọa,bỗng nhiên ở hàng thính giả, có tiếng thét như trời long đất lỏ:

"Im cái miệng chó mày lại ! Đồ phản dân hại nước ! Đồ tay sai thực dân đế quốc! "

Mọi người ngơ ngác,sợ hãi nhìn nhau ! Thuyết trình viên là cán bộ cao cấp ở trung ương, thế mà ai lại dám đứng lên chửi bới om sòm ? Mọi người chăm chú nhìn con người to gan đó. Y mặc chiếc aó bành tô to tướng,đội chiếc mũ dạ che kín mặt mũi, trông như là một điệp viên Anh, Mỹ! Mọi người thì thầm kháo nhau. Té ra y là Đặng Đình Hưng! Lúc bấy giờ con đường công danh cuả y đang thênh thang rộng mở.Y đang được Đảng và nhà nuóc trọng đãi. Y đang giữ một chức vụ khá cao dường như ở trong đòan thanh niên cộng sản.
 Nghe tiếng thét của Đặng Đình Hưng , thuyết trình viên cũng tỏ ra hốt hoảng lo sợ Sau khi được họ Đặng đứng lên phân tích, mọi người mới hiểu thuyết trình viên bị chửi là vì y thiếu thái độ nghiêm chỉnh. Khi nói về tội ác của thực dân, đế quốc, đáng lẽ y phải nghiến răng, trợn mắt, tỏ ra căm thù sâu sắc. Đằng này, y vưà nói, lại vưà cười duyên, theo phong cách tư sản, như vậy là y thiếu kiên định lập trường, không có thái độ căm thù sâu sắc với bọn thực dân đế quốc. 
Chửi là đáng,và chửi cũng là nhẹ! Thời bấy giờ, những người đi theo Đảng đều phải từ bỏ giai cấp mình để vô sản hóa triệt để. Ngươì ta đi chân không,mặc aó quần rách rưới, nói năng thô tục,ngồi xỗm, ăn bốc. Xin lổi, thưa gửi (trừ ra thưa gửi vơi cấp lãnh đạo), ngồi ngắm trăng, nhìn mây bay...đều là phong cách tư sản, lãng mạn, phong kiến! Đặng Đình Hưng,Văn Cao,và một số người khác đã tỏ ra đỏ loét từ đầu đến chân. Họ đã lấy vợ nông dân, con nhà bần cố, để mong nhờ vợ mà rửa sạch tội tư sản, phong kiến của bản thân và của cha ông mấy đời !


Trong những ngày đầu tiên, cuộc rèn cán, chỉnh quân đã tỏ ra sôi động . Dường như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng là nạn nhân đầu tiên của cuộc cải tạo tư tưởng, Nguyên Hồng bị chửi là lưu manh,vô học. Một tay cò mồi phùng mang, trợn mắt, chỉ vào mặt Nguyên Hồng:

" Mày là thằng vô học. Bố mẹ mày cho mày đi học, mày không chịu học, mày lại đi theo bọn lưu manh, mất dạy. Quyển "Bỉ vỏ " của mày là một bằng chứng cụ thể cho thấy bản chất xấu xa, đê tiện của con ngườì mày.Tác phẩm của mày tòan là cặn bã xã hội , mày chuyên tả bọn trộm cắp, bọn lưu manh đầu đường xó chợ, bọn du côn, đĩ điếm.. Mày đã đầu độc biết bao thanh niên, thiếu nữ , khiến cho họ đi vào con đường tội ác .Mày là thằng lưu manh,có tội với quần chúng,nhân dân.Mày phải đền tội trước nhân dân,trước Đảng ! "


Nguyễn Công Hoan thì bị quy tội chui vào Đảng để phá hoại Đảng. Trong lúc biết bao đồng bào,chiến sĩ bị Pháp bắt bớ,tra tấn,sát hại tại Khám Lớn ,tại Côn Đảo,thì Nguyễn Công Hoan lại ru ngủ đồng bào bằng những tiểu thuyết lãng mạn như " Kiếp hồng nhan " , ' Kép Tư Bền ","Tắt lưả lòng "...

Trước dây,Nguyên Hồng được Đảng đánh giá là tay tiểu thuyết tài ba, và tác phẩm của ông có giá trị hiện thực xã hội, nay thì bị sổ toẹt, coi là hạng lưu manh. Còn Nguyễn Công Hoan vốn là một nhà giáo, trước 1945,đã được mấy tay tổ cọng sản vuốt ve, và dường như Nguyễn Công Hoan cũng đã từng bỏ chút tiền còm của lương giáo viên mà nuôi nấng mấy ông cộng sản! Trước tình đời đen bạc, trước những lời vu khống nặng nề, quá phẫn uất, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng đều ói máu, và té xuống bất tỉnh nhân sự... Cả hội trường hốt hoảng tìm phương cứu chữa hai ông nhà văn. May phước hai ông rồi cũng bình phục để sau này còn phải kéo cày phục vụ Đảng! 
Nghe đâu một nhà thơ nữa cũng tức ói máu nhưng cả ba ông chưa mãn số đoạn trường như lão Chu Du ỏ đất Đông Ngô ! Nghe đâu cũng nhờ việc này, Đảng nới lỏng bàn tay cho nên các khoá rèn cán chỉnh quân sau này cũng đỡ khổ. Nhưng trước hay sau, các đảng viên đã bước vào đoạn trường là phải lột xác nếu không muôn về đuổi gà cho vợ. Rèn cán chỉnh quân là một dịp khủng bố, một dịp thanh lọc. Hồi đó,trong xóm ngoài ngõ,trẻ con,ngưòi lớn đều hát bài " Vui mừng biên chế " như sau:

"Tay nắm tay,chúng ta hát vui,
Trong biên chế vẫn vui cười.
Anh cán bộ thì tôi bộ đội,
Anh xí nghiệp thì tôi dân cày.
Chúng ta cùng hát vui reo cười vang !"


Muốn tồn tại, bị sa thải cũng phải vui cười. Nếu tức bực, cau có là bị lôi vào phê bình vì cái tội bất mãn, nặng hơn nưã có thể bị quy tội bất mãn, chống đối Đảng.Tội này có thể bị đem đi cải tạo!

Muốn tồn tại là phải mềm nhũn như con chi chi. Ai phê bình gì cũng nhận. Nếu không thì phải bịa tội ra để chứng tỏ mình thành khẩn, ngoan ngoản. Lẽ dĩ nhiên, mình cứ tỉm những tội nhẹ là được. Còn một khi đã bị người phê bình, mình cương quyết không nhận tội thì hội nghị vẫn truy kích mình mãi, bỏ ăn, bỏ uống, bỏ ngủ để bắt mình đầu hàng mói thôi.

Do đó,sau này,chúng ta thấy có những bản tự phê, tự kiểm của Xuân Diệu, Thế Lữ, Lư Trọng Lư...Và sau này, chúng ta có thể vào thư viện Đảng, tốn ít đồng để xem những bản tự phê,tự kiểm khác....


Sau 1954, Đặng Đình Hưng về Hà Nội phụ trách văn nghệ trung ương,cai quản đài phát thanh, tòan quyền sinh sát khiến cho nhiều anh em văn nghệ sĩ bực mình. Lúc bấy giờ ngôi sao đào hoa chiếu mạng họ Đặng. Một mỹ nhân học nhạc ở Pháp về, lại chuyên vể dương cầm, được đưa vào phục vụ ở đài phát thanh, dưới trướng Đặng Đình Hưng.
 Lửa gần rơm, lâu ngày cũng bén, huống chi tài tử giai nhân, cho nên hai bên yêu nhau. Giai nhân này đang thời xuân trẻ, lại vừa mất chồng. Chồng cuả nữ nhạc sĩ này vốn là người trong gia đình cuả đồng chí Thái Văn Lung, một vị có vai vế trong Đảng đã từ trần. Vị này dường như là em của Thái Văn Lung,sau được làm đại sứ cọng sản tại Paris. Ông đại sứ mất sớm, để cho nữ nhạc sĩ đau buồn, phải tính đi thêm bước nữa. Đây cũng là chuyện tình muôn thủa trái ngang. Nữ nhạc sĩ gốc cộng sản bự này không yêu ai, lại yêu Đặng Đình Hưng ! 
Chúng ta không biết trong cuộc chạy đua này, có vị lãnh đạo Đảng nào tham gia mà thất bại hay không, làm cho các vị lãnh đạo Đảng bực mình ghê lắm ! Như đã nói, tại sao nữ nhạc sĩ này lại chọn Đặng Đình Hưng là một người đàn ông đã có vợ ? Phong tục Việt Nam cũng như kỷ luật Đảng rất nghiêm khắc, không chấp nhận việc yêu đương lăng nhăng.Trai tơ yêu đương còn bị phê bình, kiểm thảo, huống hồ đàn ông có vợ(trừ mấy vị lãnh đạo đảng như Lê Đức Thọ., Lê Duẫn..)! 
Theo con mắt của Đảng, Đặng Đình Hưng đã không có đạo đức cách mạng. Đảng khuyến cáo, phê bình, hai bên vẫn cứ yêu nhau. Đảng tức giận, chuyển công tác Đặng Đình Hưng, nhưng hai bên lại càng nồng thắm hơn. Đặng Đình Hưng về quê bỏ bà vợ quê mùa, rồi công khai ăn ở với giai nhân. Đảng lãnh đạo đã cử người đến thuyết phục nữ nhạc sĩ. 
Đại ý nói rằng nữ nhạc sĩ muốn tái giá, Đảng cũng không ngăn cấm, Đảng không bắt bà phải thủ tiết như thời phong kiến, nhưng chồng xưa của bà cũng là một vị đại sứ, một cán bộ cao cấp của Đảng. Nay bà muốn tái giá thì cũng nên giữ thể diện cho chồng, cho Đảng. Phải lấy một người ở cấp lãnh đạo như chủ tịch nhà nước, tổng bí thư đảng hay bộ trưởng trở lên, chớ sao lại lấy Đặng Đình Hưng, một tên cà bơ cà bất trong hệ thống đảng!

Thấy mấy ông cộng sản chuyên chõ mũi vào chuyện riêng tư cuả mình, bà nhạc sĩ nổi giận, mắng như tạt nước vào mặt vị sứ giả của Đảng :

"Yêu ai là quyền tự do cuả bà, không ai có quyền ngăn cấm. Bà thích thằng ăn mày, thì bà lấy thằng ăn mày. Bà mà không thích,thì bà ị vào mặt mấy thằng từ bộ trưởng trở lên!"

Bà nhạc sĩ là con người văn nghệ, lại ở lâu trong ngoại giao, sao lại nóng nảy như Trương Phi? Bà đã ở với cộng sản, bà không sợ nguy hiểm hay sao mà ăn nói ngang ngược như thế? Bà không hiểu rằng mấy thằng từ bộ trưởng trở lên là có bác Hồ, bác Tôn, thủ tướng Phạm văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp hay sao mà đòi ị vào mặt họ? Té ra dưới mắt bà, những ngưòi này không là cái thá gì cả!

Người ta thường nói : " Đen bạc đỏ tình ." Thật vậy. Đặng Đình Hưng đẵ gặp được giai nhân. Kết quả của mối tình nồng cháy này là Đặng Thái Sơn, con người trẻ tuổi tài hoa này đã trúng giải nhất dương cầm quốc tế. Ngày áo gấm về quê, họ Đặng được báo chí trong nước phỏng vấn một câu rất hóc buá :
" Nhờ ai mà nhạc sĩ đạt được kết quả ngảy hôm nay ?"
Câu trả lòi mọi ngừơi mong đợi như thường lệ là: "Nhờ ơn bác, đảng" .
Không ngờ Đặng Thái Sơn trả lời :
" Tôi đạt được kết quả ngày hôm nay là nhờ mẹ tôi dạy dỗ. "

Thật vậy, mẹ cuả Đặng Thái Son là một nhạc sĩ dương cầm cho nên đã rèn luyện Đặng Thái Sơn từ thủơ nhỏ. Còn cha Đặng Thái Sơn thì sao ? Tại sao Đặng Thái Sơn không nhắc đến cha ? Đây là một điều tế nhị. Đặng Thái Sơn đưọc đi thi quốc tế không phải là đơn gỉản. Phải có sự vận động, phải có chạy chọt chỗ này chỗ kia. Nhưng cha Đặng Thái Sơn thì sao ? Ông không có công lao gì hay sao?

Cha của Đặng Thái Sơn là người bị Đảng ghét bỏ,không nên nhắc tới là phải dù trong lòng chàng nhạc sĩ luôn kính yêu thân phụ.


Sau khi về Hà Nội, Đặng Đình Hưng gắn bó với Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang và tham gia vào Nhân Văn và Giai Phẩm . Nhiều người không hiểu rõ, cứ tưởng Nhân Văn, Giai Phẩm là một. Cả hai đều xuất hiện trong năm 1956 tại Hà Nội, cả hai đều có ý hướng chống lại chủ trương của Đảng. Một bên là của các văn nghệ sĩ quân đội, chủ trương tự do văn nghệ. Họ cho rằng Đảng hãy để cho các văn nghệ sĩ tự do sáng tác, đừng bắt họ phải làm thế này, làm thế nọ. Theo họ, chính trị đi vào thì văn nghệ đi ra. Còn một bên là các đảng viên trẻ. 
Nguyễn Hữu Đang được coi như là lãnh tụ đám này. Họ Nguyễn lúc bấy giờ công tác ở Đoàn Thanh Niên Cọng Sản Hồ Chí Minh. Theo nột số người,Nguyễn Hữu Đang lúc ấy cho rằng Việt Nam không nên đi theo Liên Xô,Trung Quốc vì cả hai nước này sẽ đi vào con đường bại vong.Việt Nam nên hợp tác với các nước Đông Nam Á để tồn tại. Nguyễn Hữu Đang biết Hồ chí Minh không đời nào nghe theo ý kiến này,và ông tính vào Nam hợp tác với Ngô Đình Diệm để thực hiện chủ trương này.

Tuy là hai, nhưng Nhân Văn, Giai Phẩm cũng là một. Cả hai nhóm đều xuất thân từ kháng chiến, đều là trí thức, có tinh thần cởi mở, thích tự do, thấy xa nhìn rộng. Cả hai nhóm đều không chịu đựng nổi sự độc tài và ngu dốt của Đảng. Nhiều ngừơi viết cho cả hai. Phan Khôi là chủ biên của Nhân Văn đồng thời là cọng tác viên của Giai Phẩm. 
Và cũng nhiều bị chết vì Nhân Văn, Giai Phẩm. Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Đào Duy Anh, Phan Khôi, Trần Dần, Thụy An, Đặng Đình Hưng....là chánh phạm .Một số khác bị tai bay vạ gió, bị kết tội gián điệp, phản đảng. Tuy nhiên,một số lên hương vì Nhân Văn,Giai Phẩm.Tố Hữu và Trần Độ, một vị tướng kiêm nhà văn đã tiên phong tiêu diệt Nhân Văn Giai Phẩm, lập công đầu sau này trở thành những nhân vật quan trọng trong chính trị và tư tưởng Đảng.Trần Thanh Mại đói dài, nhảy ra đánh hôi, được ban chức giáo viên cấp ba. 
Văn Cao,Trần Dần, Đặng Đình Hưng ... bị đày lên miền sơn cước lao động. Trần Đức Thảo '" Biết thân đến nước lạc loài " cho nên trước khi đi vào tử địa đã xách va ly đem vợ lên xe hoa về nhà bạn qúy cũng đã đi Tây và rất Tây là Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện! 
Còn Phan Khôi thì vừa bị đảng hành hạ, đồng thời bị thằng con mất dạy là Phan Thao vốn là đại tá cộng sản chửi bới không tiếc lời! Trong giai đoạn 1954-1956, nước mắt ở Việt Nam đã nhiều hơn nước đại dụơng.Người ta đã khổ vì Đảng. Người ta càng khổ hơn vì nhân tình thế thái. Mà đau khổ nhất là bị người thân yêu nhất của mình chạy theo kẻ thù hành hạ, chửi bới mình, kết tội mình, hoặc im lặng quay lưng!

Văn Cao là người được Đảng tin cậy nhất không những vì bài Tiên Quân ca, mà còn vì đã lập công cho đảng.Người ta chỉ biết một Văn Cao nhạc sĩ với những bài ca lãng mạn mà chính Phạm Duy cũng phải ca tụng. Người ta chưa biết một Văn Cao võ nghệ siêu quần, một nhân viên trong ban ám sát của Đảng. Bàn tay của Vản Cao dạo những cung đàn êm ái, nhưng cũng là bàn tay vấy máu bao đảng viên Đại Việt, Quốc Dân Đảng, và bao đồng bào vô tội khác. Có lần một buổi chiều trên đê Hồng Hà, Văn Cao đi công tác bị máy bay bà-già ( máy bay thám thính ) đuổi bắn. 
Khi máy bay bắn bên này thì Văn Cao chạy sang bờ đê bia kia ẩn núp. Hai bên chơi cút bắt như vậy cho đến tối mịt. Cuối cùng viên phi công chịu thua, thả xuống một két rượu vang chúc mừng Văn Cao! Nhưng Văn Cao cũng có diễm phúc vì đã có một người bạn đời chân thành dù bà là một nông dân. Dù chồng bà bị Đảng hành hạ,bị trong xóm ngoài làng khinh khi, bà vẫn ngẫng cao đầu. Bà nói:

" Chúng nó cứ việc hành hạ chồng bà, nhưng khi làm lễ, khi chào cờ, từ thằng to cho đến thằng nhỏ đều phải đứng dậy nghe bản nhạc của chồng bà!"


Công cuộc cải tạo tư tưởng vốn phát xuất từ Trung Quốc. Một vị viện trửơng âm nhạc ở Thượng Hải vốn là một tay dương cầm nổi tiếng. Hình như ông cũng như Trần Đúc Thảo đều con nhà giàu, được cha mẹ cho sang học tại Pháp nhưng lại muốn về nước phục vụ giai cấp vô sản dù Mao Trạch Dông đã tuyên bố chống địa chủ, phong kiến và tuyên bố rằng bọn trí thức không giá trị bằng bãi phân trâu!

Những nhà trí thức ngây thơ này đã hết lòng với Đảng nhưng ở lâu mới biết lòng người! Vị viện trưởng này là một con người tài ba.Ông đã dùng dương cầm mà diễn tả được âm nhạc cổ truyền của Trung Quốc. Đặc biệt,ông dùng dương cầm diễn tả được tiếng sáo véo von ở chốn thôn quê.Thời kháng Nhật, ông theo Mao Trạch Đông, sáng tác bản " Dạ khúc đồng quê " nói lên tinh thần kháng Nhật của dân Trung Quốc, được Đảng đánh giá tốt. 
Đến thời cải cách, ông lại sáng tác bản '" Tiếng sáo mục đồng " để ca tụng Đảng và Mao Chủ tịch. Cả hai lần, tác phẩm của ông được đánh giá cao, đuợc phê là có tinh thần yêu nước. Nhưng trong đợt cải tạo tư tưởng, ông bị đưa ra đấu tố tơi bời. 
Ông bị đưa ra hội trường, bắt quỳ xuống nghe quần chúng phê bình. Họ nói rằng ông phản động. Thời kháng Nhật, ông làm bản nhạc vui vẻ trong khi toàn thể nhân dân đau khổ vì quân Nhật xâm lược. Còn thời cải cách, nông dân vui mừng vì được chia ruộng đất, được đảng đem lại ấm no,hạnh phúc,thì ông lại làm bản nhạc buồn rầu. Tội của ông phải đem ra xử bắn. Ông biện hộ rằng thời kháng Nhật,ông đã sáng tác bản "Dạ khúc đồng quê", đã được Đảng và Mao Chủ tịch đánh giá cao. Gần đây,ông viết bản" Tiếng sáo mục đồng" cũng được Đảng và nhân dân khen ngợi, cho nên đại hội không thể kết tội ông là phản đảng.

Tuy nhiên, trước Đảng và nhân dân, ông cũng xin nhận tội là kém hiểu biết, còn non kém về chính trị. Ông hứa hẹn từ nay về sau, ông sẽ cố gắng học tập tốt, luôn luôn theo lời dạy của Mao Chủ tịch để công việc sáng tác nhạc đúng đường lối của Đảng và Mao Chủ tịch. Đáng lẽ ông bị đem ra xử bắn như những người khác đã bị kết tội phản đảng, nhưng nhờ ăn nói khôn khéo, lại số ông còn hên, nên ông chỉ bị đem đi lao động ở miền son cước một thời gian.


Trong khoảng thời gian 30 tháng tư năm 1995,ở Việt Nam có nhiều lễ lạc.Trong một buổi lễ kỷ niệm dường như là kỷ niệm ngày thành lập đài phát thanh Việt Nam,các nhạc sĩ được mời tới tham dự và được phỏng vấn.Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điều là người đã sáng tác nhiều bản nhạc,và cũng là người có nhiều đóng góp, đã trả lời nhà báo phỏng vấn ông về cuộc đời sáng tác nhạc của ông . Theo lời ông kể trước khán thính giả, thì ông
viết bản " Giải phóng quân " vào những ngày đầu cách mạng tháng tám, được phổ biến khắp nơi để kêu gọi thanh niên tòng quân,trong đó có câu:
" Đoàn Giải phóng quân một lần ra đi,
Lòng có mong chi mau ngày trở về...."

Bài này được ca hát khắp nơi,và cũng là một bản nhạc hay nhất thời đó. Sau ông bị phê bình vì thiếu lập trường, làm nản lòng thanh niên , bởi vì ra đi mà không trở về thì ai còn dám đi lính! Đến giai đoạn giải phóng miền Mam, ông được lịnh sáng tác nhạc kêu gọi thanh niên lên đường chống Mỹ Ngụy. Kinh nghiệm lần trước bị phê bình, lần này ông viết bản nhạc có nội dung kêu gọi thanh niên hăng hái lên đường và hẹn ngày trở lại . " Cái lưỡi không xương lắm đường lắt lẽo " ! Miệng chánh ủy trôn trẻ cũng là phải. Lần này, ông cũng bị phê bình là thiếu lập trường, làm nãn lòng quân đội bởi vì chưa ra đi mà đã mong trở về thì lòng dạ nào mà chiến đấu!"

Nhạc sĩ nói tiếp: " Nếu tôi được lịnh viết nhạc kêu gọi thanh niên tòng quân lần thứ, ba, thì tôi sẽ viết: ' Ra đi rồi sẽ trở về, trở về rồi lại ra đi, ra đi rồi lại trở về."
Sau lời phát biểu của Phan Huỳnh Điểu là những tiếng vỗ tay rào rào và tiếng cười ồn ào phòng họp.Và những khán thính giả của đài phát thanh Sài gòn cũng được một trận cười thích thú vì được bật mí những điều lạ lùng trong cuộc kháng chiến do đảng lãnh đạo./. 

XI. NGÀY VỀ QUANG VINH

Trước của hội trường, cờ đỏ, cờ xanh, cờ vàng cấm chật ních như là một ngày lễ hội. Trong hội trường tỉnh, quạt máy chạy vù vù. Hội trường tưong đối rộng , có khoảng hơn 100 ghế được bày biện ngay ngắn, lịch sự. Trên tường, trước mặt hội trường là ảnh Hồ Chủ tịch với hàng khẩu hiệu: "Bác Hồ sống Mãi Trong Sự Nghiệp của Chúng Ta ", "Quyết Tâm Xây Dựng Xã Hội Chủ Nghĩa Văn Minh và Giàu Mạnh ".

Khách tham dự gồm có ủy ban nhân dân tỉnh, hội đồng nhân dân tỉnh, đảng ủy cấp tỉnh, công an tỉnh, tỉnh đội và các cán bộ tỉnh và huyện. Dân chúng đứng hàng trong hàng ngoài có đến vài trăm, trong đó có học sinh các trường, kể cả học sinh lớp Măng non đã đưọc huy động từ 6 giờ sáng.Các em Măng Non đeo khăn quàng đỏ, mồ hôi nhễ nhại, các cô giáo ốm o gầy gò luôn luôn che miệng ngáp.

Khoảng mười giờ các cán bộ đến rải rác. Đến mười một giờ hơn, đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân đến, rồi đồng chí tỉnh ủy đến. Cán bộ càng cao thì đến càng trễ. Trong hội trường cũng như ngoài sân, công an đứng đầy, lăng xăng chạy qua chạy lại ra vẻ bận rộn và tích cực. Ngoài cổng, hai hàng bộ đội bồng súng chào rât trang trọng uy nghi như là để đón tiếp chủ tịch Hồ Chí Minh đội mồ trở về thăm tỉnh.

Ngồi trong hội trường, bên trái là đồng chí bí thư tỉnh ủy và bên phải là đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, Thìn cảm thấy mình vô cùng vinh hạnh. Hình như cái đinh hôm nay là Thìn. Dường như cả mấy trăm, mấy ngàn cặp mắt đều đổ dồn vào chàng, người Việt kiều yêu nước của tỉnh. Chàng trở thành nhân vật số một của cấp lãnh đạo tỉnh và của nhân dân tỉnh bởi vì trong mấy năm vượt biên rồi sống ở Đan Mach, chàng nay đã trở thành triệu phú.

 Chàng được tòa đại sứ Việt Nam tại Đan Mạch tôn làm thượng khách, thường mời chàng đến đãi tiệc và trân trọng mời chàng về đầu tư. Trung ương Hà Nội và Uỷ ban Nhân dân tỉnh đều gửi thư mời chàng trở về đóng góp tài năng vào công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội. Khi chàng về đến Nội Bài, chủ tịch tỉnh và bí thư tỉnh ủy cùng một lúc đưa xe con ra đón chàng và đưa chàng về tận nhà. Họ còn để xe lại cho chàng sử dụng. Họ ân cần hết sức khiến cho chàng cảm động. 

Ngày hôm nay là ngày lễ cách mạng tháng tám, mấy năm nay vì khó khăn kinh tế, người ta bỏ quên không tổ chức, nay chàng về, người ta tổ chức mừng chàng y cẩm hồi hương và kỷ niệm cách mạng tháng tám luôn thể. Sau phần nghi lễ chào cờ, suy tôn Hồ chủ tịch, mặc niệm chiến sĩ trận vong, viên tỉnh ủy lên đọc diễn văn, ca tụng cách mạng tháng tám và ca tụng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, đồng thời kêu gọi đồng bào trong nước và hải ngoại tích cực đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. 

Tiếp tục, đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân lên giời thiệu chàng là một Việt kiều yêu nước, đã tích cực hoạt động ở nước ngoài, được tòa đại sứ Việt Nam tại Đan Mach khen ngợi, và đuợc đảng ủy cấp tỉnh và hội đồng nhân dân tỉnh cấp phát văn bằng Việt kiều yêu nước hạng danh dự. Thìn cảm động hết sức, nước mắt chảy hai hàng, nghẹn ngào không nói nên lời, tay run run khi lên nhận bằng danh dự do chính tay chủ tịch tỉnh ban phát. Từ tổ tiên chàng đến cha ông, không ai được vinh dự chánh tổng đến nhà, và mời ăn uống.

"Con hơn cha là nhà có phúc". Nay thì chàng không những được huyện, mà còn tỉnh và trung ương đến thăm tận nhà, xưng hô ngọt ngào, lịch sự, mời dự tiệc khắp nơi với đủ các món sơn hào hải vị mà ngay khi ở nước ngoài chàng cũng không hề nếm qua dù chàng đã trở thành triệu phú. Chàng thấy sống ở Việt Nam là thần tiên, như là bay bổng trên chín tầng mây. Còn ở nước ngoài, dù chàng là triệu phú hay tỉ phú cũng chẳng ai biết, ai quan tâm. Tiến sĩ, kỹ sư, tỷ phú, anh thợ hồ, anh thợ mộc, anh hầu bàn đều là những con kiến trong một xã hội đông đúc và xa lạ, chẳng ai biết ai. Nay về Việt Nam, chàng đi đâu cũng được trẻ con cho đến lãnh đạo cao cấp, ai cũng trầm trồ, khen ngơị, ca tụng và chào đón rât nồng hậu!


Chàng là người lanh lợi và có số hên. Bố mẹ chàng là nông dân nghèo tại Nam Định. Nhà nghèo không áo che thân và không đủ ăn hai bữa, chàng phải ăn cắp, ăn trộm vặt để mưu sinh.

Chàng bị công an tỉnh bắt đánh nhừ tử, nhốt vài ngày lại thả ra vì không có chỗ chứa và không có lương thực cho chàng. Bị công an theo dõi, hết đất làm ăn, chàng theo đám trẻ sống bụi đời, lên Hà Nội sinh sống. Chàng cũng làm nghề cũ, cộng thêm nghề xếp hàng mua gạo tổ. Giờ tan sở, các con đường Hà Nội đều nghẽn lối đi,người ta phải chờ đợi hàng giờ mới về đến nhà, nhưng với tài uốn lách của chàng, chỉ mười lăm phút hay nửa giờ là qua cầu Long Biên cái rụp. Cuối cùng chàng đã xung phong đi bộ đội lúc 16 tuổi để có cái mà sống. Trong bao nhiêu năm đi bộ đội, chàng cũng đã có cơm ăn dù không no, và áo mặc dù là chỉ hai bộ trong người. 

Vì trẻ cho nên chàng phải làm mọi việc lặt vặt trong quân đội, từ cấp dưỡng cho đến chiến đấu tại mặt trận. Tại đây chàng đã ăn bớt gạo, ăn cắp đường sữa bán ra ngoài lấy tiền tiêu xài. Chàng bị bọn chỉ huy ghét bỏ thường bắt giam chàng vì cái tội tham ô và hủ hóa. Họ phê trong hồ sơ chàng là vô sản lưu manh. Đơn vị chàng đồn trú tại Mông Cáy.

 Lúc bấy giờ Việt Nam và Trung quốc có xung đột, đảng và nhà nước đuổi Hoa kiều về nuớc. Chàng nghe nói các nước tư bản rất giàu, sang được bên đó dù đi làm cu ly vẫn no ấm chứ không như ở xã hội chủ nghĩa, lao động vinh quang suốt ngày nhưng bao tử vẫn lép kẹp. Chàng nghe thiên hạ làm giấy giả theo nạn kiều chạy sang Trung quốc. Chàng bèn lẩn vào trong đám nạn kiều và sang Trung quốc ngon lành. Một số Hoa kiều và người Việt xin ở lại Trung quốc, đuợc cho vào các nông trại . Một số xin đi sang các nước tư bản. Chàng cũng theo họ xin đi đến một quốc gia trung lập và Đan Mạch đã nhận chàng.

Sang đây, chàng gặp một thiếu nữ người Việt, con gái của một gia đình Việt Nam, nhờ làm giấy giả mạo Hoa kiều nên sang được Hồng Kông. Ở đây ít lâu, gia đình nàng đuọc Đan Mạch nhận cho cư ngụ. Hai vợ chồng sống hạnh phúc. Hai vợ chồng xin làm công nhân xưởng dệt, lương bổng cũng tương đối khá. Một hôm hai vợ chồng vào một tiệm phở người Việt, thấy khách hàng vào ra tấp nập. Hai vợ chồng bàn nhau đem số tiền dành dụm được để mở tiệm phở vì nhà nàng trước kia ở Việt Nam cũng đã mở tiệm phở. 

Công việc làm ăn ngày càng khấm khá. Hai vợ chồng mở thêm nhiều chi nhánh. Ngoài bán phở, hai vợ chồng anh còn làm bánh giò, chả lụa, chả quế,bánh bao. Nhưng trong các món, chả giò và phở là được người Vịệt và người ngoại quốc yêu thích nhất. Anh phải thuê hàng chục người vừa Việt nam vừa Đan Mạch làm phụ. Trong vài năm, anh trở thành triệu phú. Anh đã gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà cửa. Ngôi nhà tranh rách nát năm xưa nay thành ngôi biệt thự rất khang trang. Anh cũng đã giúp các anh chị em mỗi người một số tiền làm vốn. 

Và lúc này, bên nhà, chính sách mở cửa đã bắt đầu, cán bộ toà đại sứ Việt Nam đã cho người bắt liên lạc với anh, mời anh về đầu tư. Họ cho người vận động riêng với vợ anh, và cha mẹ vợ của anh nữa. Họ đưa ra bao hứa hẹn . Anh ban đầu không thích trở về Việt Nam làm ăn vì anh đã chán một nước Việt Nam nghèo khổ và đầy rẫy cường hào ác bá mà anh đã từng là nạn nhân. Nhưng vì vợ anh, và bố mẹ vợ thúc dục, cộng thêm anh em, cha mẹ bên nhà tuân theo chỉ thị của đảng, đã liên tiếp gửi thư thúc dục anh sớm về đầu tư kẻo lỡ dịp. Khi về, chính anh cũng bị chinh phục vì thái độ thưong yêu, nồng nhiệt và cởi mở của các cán bộ huyện tỉnh đối với khúc ruột thừa xa ngàn dặm quê hương!


Sau khi tham khảo ý kiến bạn bè, anh em, cha mẹ trong gia đình, cùng nghiên cứu thị trường với sự tham gia chỉ đạo của các cán bộ cao cấp của tỉnh, anh quyết định mua một miếng đất rộng lớn của tỉnh xây một nhà khách bốn tầng lầu, gồm 50 phòng với phí tổn sáu trăm ngàn mỹ kim. Anh cũng mua đất xây một cửa hàng ăn rộng rãi, có thể chưá 500 người một lúc, với phí tổn ba trăm ngàn mỹ kim. So với bên Đan Mạch, mọi thứ đều rẻ. Anh hy vọng năm du lịch Việt kiều và người ngoại quốc sẽ đổ về không chỗ ở và nhà khách của anh sẽ thu hút mọi người vì đó là một nhà khách tối tân nhất tỉnh Nam Định. Anh cũng hy vọng cửa hàng ăn của anh có thể là nơi tổ chức tiệc tùng cưới gả, hay nơi ăn uống của Việt kiều và ngoại quốc khi về Nam Định du lịch.


Vì Việt kiều không được phép kinh doanh hay mua nhà đất, cho nên anh nhờ anh Hai đứng tên mua và xây nhà khách, còn cửa hàng ăn thì nhờ anh Ba đứng tên hộ. Còn vợ chồng cô em gái thì anh giao đứng tên và trông coi cửa hàng kim khí điện máy. Theo luật nhà nước, muốn kinh doanh, các hộ phải có tiền mặt bỏ vào ngân hàng ít nhất là 50 ngàn mỹ kim. Ba cơ sở trên, anh đã bỏ tất cả gần triệu rưỡi mỹ kim chưa kể tiền biếu xén và ngoại giao trà nước. 

Anh thấy mình quả vĩ đại không thua gì Hồ chủ tịch vì anh đã xây những cơ sở vật chất to đẹp, tối tân cho tỉnh. Anh đã đem lại công ăn việc làm cho bà con, cho nhân dân. Dĩ nhiên bà con anh đã được thu nhận vào làm việc tại các cơ sở của anh. Ngoài ra những người của công an, ủy ban, tỉnh ủy cũng đưọc thâu nhận vào làm việc. Anh thấy anh là người nhân hậu, quảng đại vì anh đã thu nhận tất cả mọi người, bà con cũng như không bà con, nhất là những người do chính quyền giới thiệu. Anh cũng thấy anh là người có tài xã giao rộng rãi, luôn luôn làm vui lòng bà con cũng như chính quyền. Anh là niềm kiêu hãnh cho bố mẹ, anh em và họ hàng, làng xóm. Anh rất là vui vẻ vì anh thấy anh là một vị anh hùng , ít nhất là anh hùng của tỉnh vì trong tỉnh không ai giàu bằng anh và yêu nước bằng anh!


Anh đi về Đan Mạch thăm vợ con rồi trở lại Việt Nam. Đây là lần thứ ba anh trở lại thành Nam. Anh được Ban Việt Kiều trung ương mời lên Hà Nội tham dự một cuộc họp đại biểu Việt Kiều yêu nước. Anh cảm thấy vô cùng vinh dự. Tiếng tăm của anh không những vang lừng khắp tỉnh Nam mà con vang dội đến thủ đô, và có lẽ sẽ vang lừng khắp nuớc và khắp hoàn cầu. Anh nghĩ người ta cưng chiều anh cũng là phải, vì anh là người đầu tiên trở về đầu tư, họ phải kính trọng anh để lôi cuốn các Việt kiều ở Anh, Pháp, Mỹ.


Ở Hà Nội, sinh hoạt với các cán bộ trung ương độ nửa tháng, mọi chi phí đều do trung ương đài thọ. Anh được đi xem lăng Hồ chủ tịch và đi du lịch nhiều nơi như hang Pac Bó là cái nôi của cách mạng,và bải biển Đồ sơn là nơi nghỉ mát của các lãnh đạo trung ương.


Khi anh ở Hà Nội về, mọi công việc kinh doanh đã tiến hành tốt đẹp. Nhà khách, nhà ăn đều có khách ra vào, tuy chưa đông đảo như ý muốn nhưng buồi sơ khởi thế là tốt lắm rồi.


Một buổi trưa, anh ngồi làm việc tại văn phòng nhà khách thì một cô nhân viên bước vào phòng. Sau câu chào hỏi, cô ta ngồi vào lòng của anh, rồi bạt tai anh một cái như trời giáng. Anh xô cô ta ra, cô xõa tóc, tuột áo ra làm mất cả hàng nút áo, rồi kêu la ầm ĩ rằng anh ta hãm hiếp cô ta. Ngay tiếng kêu đầu tiên của cô ta, các nhân viên nhà khách và công an ập vào, làm biên bản, chụp hình. Mọi người đều nhất trí kết tội anh ta hãm hiếp công nhân nhà khách và họ tuyên bố sẵn sàng ra tòa làm chứng vụ này.Công an bắt anh lên trụ sở làm việc, rồi tống giam. Trong lúc đó, mọi người trong gia đình của anh được gọi lên công an kinh tế làm việc. Ba anh chị em của anh đều được mời lên trụ sở công an một lúc nhưng lại được ngồi ở ba văn phòng khác nhau do những công an gộc của tỉnh thẩm tra.


Khi vợ chồng anh Hai của anh bước vào, họ nghiêm nghị chỉ ghế cho anh chị của anh ngồi xuống. Họ ôn tồn nói:

- Vì gia đình anh chị thuộc diện kinh doanh cao cấp cho nên chúng tôi mời anh chị đến để bổ túc hồ sơ theo luật định. Xin anh chị thành thực trả lời để chúng tôi làm việc. Xin anh chị cho biết tên họ, dịa chỉ, số chứng minh nhân dân.

Anh thành thực trình bày, và những lời khai của anh được một ủy viên thư ký ghi chép đầy đủ.

-Xin anh cho biết xây nhà khách hết bao nhiêu ? Và tiền ở đâu mà anh có?
-Thưa cán bộ, tiền đó là do người em tên Thìn đem về để xây cất nhà khách. Phí tổn mua đất, xây nhà, và đồ trang trí nội thất hết 800 ngàn dô la Mỹ.
-Anh chị xây nhà khách, vậy có giấy phép không?
-Chúng tôi chưa xin được giấy phép nhưng tỉnh uỷ đã khuyến khích chúng tôi cứ xây, giấy phép sẽ về sau.

Viên công an đổi sắc mặt quát tháo:
-Láo! Làm nhà phải có giấy phép, không có giấy phép sao tự ý xây cất? Anh lại còn vu khống cho tỉnh ủy à?


Cuối cùng vợ chồng người anh Hai phải ký nhận vào lời khai rồi ra về trong nước mắt. Hoàn cảnh vợ chồng anh Ba và cô Út cũng không khác gì hơn. Có lẽ họ khá hơn vợ chồng anh Hai vì vợ chồng anh Hai đã rơi vào lão Ba Búa là tay hùm xám Nam Định. Còn họ đuợc viên công an già ngọt ngào thuyết phục, phải thành thực khai báo thì đuợc trọng thưởng, nhà nước rất tôn trọng Việt kiều yêu nước, và gia đình Việt kiều. Nếu kê khai rõ ràng thì sẽ đươc vĩnh viễn làm chủ mọi thứ đã được đúng tên. Những người này trước sau đều thành thực khai rằng tiền của đầu tư, mua đất, xây nhà, mua sắm máy móc là của người em là Lê Văn Thìn, Việt kiều yêu nước ở Đan Mạch về. Họ khai xong ký tên vào biên bản và ra về trong lo âu, thắc mắc, không hiểu tại sao. Cả bố mẹ Thìn cũng đưọc kêu lên làm việc. Họ hỏi:

-Tiền đâu cụ làm nhà?
-Dạ thưa cán bộ, tiền tôi làm nhà là do con tôi tên Thìn mang về.
-Khi mang tiền vào Việt Nam , anh Thìn có xin giấy phép không? Có khai báo cho tỉnh hay huyện biết không ?
-Thua cán bộ, việc đó thì tôi không đuợc rõ.

Người ta đưa bút cho hai cụ ký và cho hai cụ ra về trong cay đắng nghẹn ngào.


Tòa án tỉnh tuyên cáo anh phạm nhiều tội nhưng những tội chính là:
-Thứ nhất: chuyển tiền vào Việt nam bất hợp pháp ( không kê khai và xin phép.)

Thứ nhì: Đầu tư bất hợp pháp ( Chính phủ chưa cho anh đầu tư mà anh đã đầu tư gian lận bằng cách cho anh chị em đứng tên, đó là một hình thức gian lận, phá hoại kinh tế Xã hội chủ nghĩa. Điều này luật đầu tư đã nói rõ).

Thứ ba: Mua nhà bất hợp pháp ( chính phủ chưa cho mua nhà mà đã mua nhà, cho anh chị em đứng tên, đó là một hình thức gian lận, luật nhà đất cũng đã nói đến việc này).

Thứ tư: chiếm đất công, xây cất bất hợp pháp.
Thứ năm: trốn thuế.
Thứ sáu: cưỡng hiếp nữ công nhân.


Họ tuyên án anh hai muơi năm tù , phạt vạ hai triệu mỹ kim, tịch thu tất cả cửa hàng và tài sản do anh xây dựng, ngay cả ngôi nhà của cha mẹ anh . Còn các anh chị em vì thành thực khai báo nên mỗi người chỉ bị tù sáu tháng.


Một sáng, người ta thông báo Thìn đã tự tử . Một số bảo rằng anh uất ức mà tự tử. Một số lại xì xào bàn tán rằng Thìn đã bị người ta giết bịt miệng.


XII. CHÙM KHẾ NGỌT

Trương Thế Phát là một thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội, và chiếm Bắc Ninh, Thái Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình ông đến Xiêm La, rồi định cư tại đây. Nhờ có tàu bè, ông mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa tiệm vải vóc lụa là, và trà thất Mây Tần.

Là một nhà kinh doanh, công việc bận rộn, nhưng òng luôn thương nhớ quê hương . Ông nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc . .. má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ phở , nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột. . . Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội chùa Hương.. . Ông nhớ những bài hát ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải, cam, quít. . . Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng, phong tục xa lạ, thực phẩm khác mùi vị làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái.

Lúc bấy giờ nhiều người trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết , một lý tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động. Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở lại Xiêm mà cũng có người đi qua , đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế .

Trà thất Mây Tần do con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất, cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh doanh trà thất Mây Tần .

Trà thất Mây Tần ở thủ đô Bangkok là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất Mây Tần uống trà, uống rưọu , Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt Nam. Ông bèn tới chào hỏi, mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người Bắc, người Trung, và người Nam. 

Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng hai bên thật vui vẻ như câu thơ “ Thiên lý tha hương ngộ cố tri ”. Họ hỏi ông tại sao đặt tên trà thất là Mây Tần.

Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa” Dần dần, hai bên quen nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật. Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như Liên Xô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột người.

 Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có khoảng mười triệu đảng viên. Lực lượng đảng trong nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc. Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và hoạt động của đảng cách mệnh.

 Ông được chi bộ đảng khen ngợi là “ nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo cộng sản được gọi là “ Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với cách mạng.
Sau 1945, đệ nhị thế chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ cộng sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe cộng sản càng mạnh. Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam.

 Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa giao thương với Xiêm La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Bangkok. Những đảng viên cộng sản Việt Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động Việt kiều tại Thái Lan về xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào, Miên. . .Họ bảo đất nước ngày nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên xã hội chủ nghĩa, nông dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội bây giờ không còn nạn người bóc lột người. 

Sinh viên học sinh được tự do học hành, không phài đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở cho đến khi thành tài. Trong nước ai cũng có công ăn việc làm, không ai thất nghiệp. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ. Trần Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội, và và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.

Quê hương là chùm khế ngọt. ..
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học,
Con về rợp bướm vàng bay
. . . . . . . .

Quê hương là cầu tre nhỏ,
Mẹ về nón lá nghiêng che.
Là hương hoa đồng cỏ nội,
Bay trong giấc ngủ đêm hè. . .

Lúc bấy giờ công việc buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được cán bộ cộng sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê hương. Ông nay được ban khen là gia đình có công với cách mạng. Nếu về Việt Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở trước mắt ông.

Ta về ta tắm ao ta!
Ông muốn trở về tắm ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai !


Ôi! Nước ta nay đã độc lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân dân ta khốn khổ điêu tàn . Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến thảnh sự thực. Ông lo bán nhà cửa, hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã đến tòa đại sứ Việt Nam tại Vọng Các (Bangkok) ghi tên hồi hương. Toà đại sứ Việt Nam tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả Việt kiều tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cambodge rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.


Sau khi đoàn Việt kiều Thái Lan về đến Cambodge, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Xô là loại xe bốn bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả đám được cán bộ cộng sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề rào kín và có lính gác.


Họ bảo các Việt kiều tạm ở lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước. Họ ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó.Họ bảo mọi người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép. Họ đưa mọi người vào hội trường. Viên thủ trưởng tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:


Chào các đồng bào và các đồng chí,
Hôm nay tôi xin thay mặt mặt đảng và chính phủ chào mừng những người con yêu trở về tổ quốc.

Ông vừa dứt lời, mọi người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo.
Tiếp theo, ông nói:
Thưa các đồng chí và đồng bào,
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người ngoại quốc đã ước mơ trong một đêm được trở thành người Việt Nam. Các đồng bào và đồng chí nay đã thành người nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Trước tiên, yêu cầu mọi người giao nộp thẻ căn cước, thẻ quốc tịch và khai sinh ngoại quốc để Nhà nước làm thủ tục hành chánh.

Ông nói xong thì lui bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hạt xoàn và đô la. Trong khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào phòng khám xét hành lý của Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra. Ngay hôm đó, họ bắt mọi người giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.

Ông cán bộ nói:
Đảng phải giữ tài sản cho đồng bào vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được ổn định.

Các gia đình Việt kiều được cán bộ rút sổ tay, xé giấy viết biên nhận bằng những tờ giấy vàng úa xấu xí với những giòng chữ nghệch ngoạc, không rõ chữ viết và con số, và cũng không ghi ngày tháng, tên chủ nhân tài sản cũng như chữ ký và tên người nhận:

Đã nhận 300 miếng kim loại bề ngoài màu vàng. . . Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài. . . Đã nhận hai mươi viên đá nhỏ óng ánh. . .


Tiếp theo, mọi người làm thủ tục y tế. Mọi người phải vào phòng kín, cởi hết áo quần để y sĩ khám xét. Không thử máu, không nghe tim mạch, mà chỉ khám tổng quát. Thủ tục này thì cũng nhanh thôi, ngoại trừ những ai còn cất giấu tài sản trong người là bị tịch thu và bị phê bình, kiểm thảo.


Đến đây thì các Việt kiều đã biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp Mã giám sinh đã kêu lên:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già!.


Vài ngày sau, các Việt kiều được phân phối về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Minh được phân phối về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ :
-Chúng tôi xin về Hà Nội là quê hương của tôi và đã được tòa đại sứ Việt Nam ở Bangkok chấp thuận. Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?

Tên cán bộ trong ban Việt kiều yêu nước nói:

- Nay chúng ta đang xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười, hơn trăm lần xưa. Hà Nội tương lai sẽ có những tòa cao 100, 200 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau.


Biết rằng phản đối cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ xuống quốc lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số. Ông là một kẻ ngụ cư. Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để phá hoại xã hội chủ nghĩa. Tiền của mất sạch, gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. 

Ở Thái Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên quê hương mình. Ông suy nghĩ xa gần mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa, giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy vọng của ông! Kẻ sát nhân cướp bóc chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh để rồi làm hại mình và con cháu!


Vài năm sau, chiến tranh Việt Mỹ bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh bắc tử nam”. Trương Thế Minh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào bộ đội rồi tử thương tại chiến trường miền Nam. Con gái ông phải đi thanh niên xung phong, lâm bệnh rồi chết trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cắng đắng nhau. Bà trách ông nhẹ dạ tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận về bị lường gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu say rồi chửi cộng sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù Thái Nguyên.

XIII. SINH VIÊN VÕ BA

Hồi bấy giờ tôi dạy học tại Đại học Văn khoa Sàigon. Tôi và các bạn đồng nghiệp trẻ rất thân vì chúng tôi hiểu nhau . Những lần đi dạy tại các đại học Cần Thơ, Hòa Hảo,Cao Đài.. .là những lần chúng tôi có dịp gần gũi nhau.

Những ngày tháng tại Đại học Văn khoa Saigon cũng là những ngày rất vui trong đời tôi mặc dù ở bên ngoài bom vẫn rơi, đạn vẫn nỗ, cộng quân mỗi ngày một xâm chiếm.
Tôi lúc bấy giờ bận rộn việc nghiên cứu, giảng dạy .Đến trường, ngoài việc dạy học, tôi không chú ý đến việc nào khác. Hết giờ dạy là về nhà đọc sách, viết sách. Tuy nhiên, có một điều khiến tôi chú ý là trong só nhân viên văn phòng, lại có một nhân viên mới. Anh này còn trẻ, dáng điệu quâ mùa, thường mặc quần kaki, áo cháo lòng, hay đứng trước cửa văn phòng kế toán. Tôi không rõ anh phụ trách công việc gì, vì tôi chỉ xuống văn phòng tài chánh,tháng một lần để lãnh lương.

Sau 1975, tôi và các đồng nghiệp ở đại học Khoa học phải học chính trị tại Đại học Văn khoa. Tôi lúc đó mới biết rằng bên cạnh các cán bộ quân quản, còn có anh chàng thanh niên làm văn phòng nay trở thành cán bộ cách mạng. Hỏi ra mới biết anh này tên là Võ Ba, vốn là sinh viên ban sử địa, là cán bộ nằm vùng, người Củ Chi, bị quốc gia bắt giam, sau được Sơn Hồng Đức , giảng sư ban sử địa, lúc này làm phụ tá khoa trưởng Bùi Xuân Bào , bảo lãnh, đưa về làm văn phòng nhà trường. Anh là người hiền lành, ít nói .
Trong trường tôi có nhiều điều kỳ quái. Giáo sư Châu Long nằm vùng nhưng các sinh viên cao học của ông đếu là người quốc gia, còn Sơn Hồng Đức, người quôc gia, làm việc cho tổng thống phủ, lại giúp đỡ các ông cộng sản nằm vùng.

Khi tôi ra khỏi đại học thì Võ Ba trở thành cán bộ giảng dạy ban sử địa. Những lúc rảnh rang, tôi đến thư viện đọc sách.Tại đây , tôi gặp Võ Ba. Anh tỏ vẻ thân thiện với tôi. Anh nói chưong trình địa lý cấp ba không bằng chương trình cấp một thời quốc gia. Chương trình quá sơ lược , chương trình năm châu mà chỉ dạy vài giờ theo kiểu lái phản lực xem hoa ! ( Chương trình văn học thế giới cũng thế !) Anh nói rằng các giáo sư sử địa rất tốt. Giáo sư Lâm Thanh Liêm, bà Quách Thanh Tâm đã nói với anh rằng :
Chúng tôi biết anh là cộng sản nhưng chúng tôi không lấy đó làm điều. Nếu anh thích học, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. 

Anh ca tụng tinh thần bác ái của các giáo sư trên. Riêng đối với Sơn Hồng Đức anh kính trọng đặc biệt mặc dù Sơn Hồng Đức bị kết tội là CIA. Anh vẫn gọi Sơn Hồng Đức bằng thầy, và thường thăm viếng Sơn Hồng Đức khi anh được trả tự do. Nghe anh nói ,tôi nghĩ ngợi gần xa.

Quả thật, chính phủ ta ,đồng bào ta rất nhân ái. Con Nguyễn Hữu Thọ và nhiều người khác nữa theo cộng sản nhưng chúng ta không truy kích gia đình họ, trả thù,trừng phạt gia đình họ. Con cái của họ vẫn theo học đại học, cụ thể như sinh viên Võ Ba tại trường Đại học Văn khoa Sàigon. Trái lại, cộng sản rất dã man. Những ngườI có tổ tiên là phong kiến, những người có thân nhân đi nam. Những người có cha mẹ,anh em làm việc cho chế độ cũ, hoạc chống lại họ, thì con cháu, anh em đều bị họa lây. Ở giữa thế kỷ 20, cộng sản vẫn áp dụng chính sách tru di tam tộc của phong kiến !
Sau này, tôi nghe tin Võ Ba bỏ dạy học, đi làm bí thư cho huyện ủy Nhà Bè. Một huyện ủy mà có được một bí thư như Võ Ba kể ra cũng biết dùng người ! Nhưng chỗ ngồi của Võ Ba không bền vì ít lâu sau huyện ủy Nhà Bè bị mất chức ,Võ Ba lui về nhà. Nay không biết con đường công danh sự nghiệp của Võ Ba như thế nào.

XIV. EM CHỢT ĐẾN
 
Tôi đang thong thả dạo bước trong Laurent Center thì tôi bỗng đứng sững lại trước một bích chương quảng cáo rất lớn dán trước cửa hàng The Bay. Tấm hình quảng cáo này chụp hình một thiếu nữ rất đẹp, rất sống động, nửa Á, nửa Âu. Trông nàng rất giống Thanh Hương, người bạn năm xưa của tôi. Tôi đứng ngắm nàng gần nửa giờ đồng hồ, mà lòng bỗng dâng lên bao cảm xúc mạnh mẽ như những đợt sóng cuồn cuộn ngoài biển khơi lúc bão tố.

Năm ấy, tôi là sinh viên Đại học năm thứ nhất, mùa hè tôi thường đi chơi khắp nơi với bạn bè, la cà suốt ngày, từ nhà nọ đến nhà kia. Trong cuộc giang hồ vặt đó, một hôm anh bạn sinh viên vốn là anh họ của nàng đã dẫn tôi đến chơi nhà nàng tại khu Chí Hòa, và nói rằng nàng có rất nhiều bạn trai. Từ đó tôi quen nàng, thỉnh thoảng tôi đến thăm nàng, và hai chúng tôi nói chuyện trên trời dưới đất rất vui vẻ và nghiêm chỉnh. 

Nàng hơi thấp, dáng mập mạp, mạnh khỏe, da trắng, mũi hơi cao, đôi mắt nửa nâu nửa đen. Sau này ra ngoại quốc, tôi mới thấy dáng dấp và thân hình của nàng rất giống với các thiếu nữ xứ Bắc Mỹ. Không biết mấy đời trước, gia đình nàng có ai kết hôn với người châu Âu hay không mà nàng lại có cái đẹp tây phương. Nàng người Huế, cha mẹ có nhà tận Nhà Bè, Gia Định. Một lần, anh bạn sinh viên của tôi đã dẫn tôi về Nhà Bè thăm nơi ẩn cư của thân phụ nàng, một vị cử nhân Hán học, đã làm viêc cho Nam triều, sau về hưu, lui về Nhà Bè ẩn dật. 

Nhà rất rộng rãi, không khí miền quê thoáng đảng, trồng nhiều loại rau và cây ăn trái. Trước sân và sau vườn có nhiều cây kiểng, uốn hình long, lân, quy, phượng rất tinh xảo. Lại có những hòn giả sơn, có đủ ngư, tiều, canh, mục, hươu, nai với những cây cầu nho nhỏ bắc qua khe,suối. Thân phụ của nàng tiếp tôi rất nồng hậu. Các chị em nàng cũng vui vẻ, họ làm bánh bèo, bánh nậm Huế đãi chúng tôi. Nàng lên ở nhà người anh vốn là một luật sư ở Sài gòn để đi học. Nàng học trường Marie Curie, thường mang đồ đầm rất lịch sự, quý phái, trẻ trung.

Nghe nói nàng có nhiều bạn trai cho nên tôi cũng có chút úy kị. Tôi không biết nàng đã có người yêu chưa cho nên dù thích nàng tôi cũng không dám đường đột.
Trong năm học, tôi bận học thi lại bận việc dạy học tư cho nên không có nhiều thì giờ vào việc du hí. Vài tháng tôi đến thăm nàng một lần, và tôi cũng không hề rủ nàng đi chơi. Những lúc tôi đến thăm nàng thì thường là chỉ có chúng tôi, anh nàng đi vắng thường xuyên. Dù nhà vắng, chúng tôi vẫn chuyện trò trong nếp gia phong nho giáo.

Một buổi trưa, tôi đang ngồi học thì nàng chợt đến. Đây là lần đầu tiên nàng chủ động đến thăm tôi. Nàng nói nàng được nghỉ học nên rủ tôi đi xem ciné.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi xem ciné với nhau. Chúng tôi ngồi bên nhau vui vẻ, thích thú. Đối với tôi nàng vẫn nghiêm nghị như các cô gái Huế. Nhưng dẫu sao buổi đi ciné hôm đó là một điềm tốt chứng tỏ nàng có cảm tình sâu đậm với tôi. Tôi lấy can đảm cầm tay nàng. Nàng vẫn yên lặng. Tôi ôm nàng, nàng cũng không phản đối. Nhưng khi tôi hôn lên môi nàng thì nàng từ chối mãnh liệt. Nàng ngồi một lát rồi bảo tôi nàng phải về kẻo ông anh rầy la. Tôi buồn bực cho nên không nói năng gì, mặc nàng ra về một mình. Từ đó, tôi không đến thăm nàng nữa. Sau này, tôi đi làm việc ở tỉnh xa, ít khi về Sàigon.

Và từ ngày đó cho đến nay, tôi chưa hề gặp lại nàng một lần. Tôi không biết một chút tin tức gì về nàng. Tôi không biết sau tết mậu thân (1968) cũng như sau cơn quốc biến, nàng và gia đình nàng đi về đâu.Tôi không biêt nàng đã lấy chồng hay chưa, nàng ở lại Việt Nam hay đã đi ra nước ngoài. Tấm hình trước cửa hàng The Bay dã đưa tôi trở về quá khứ. Tôi cảm thấy nổi lên một chút ân hận. Sau buổi đi ciné đó, nàng còn có cảm tình với tôi hay ghét tôi? Nếu sau đó, tôi trở lại thăm nàng thì việc gì sẽ xãy ra ? Nàng cự tuyệt tôi hay nàng chấp nhận tôi? Tôi nghĩ dẫu sao tôi cũng đã có lỗi với nàng, tôi đã làm nàng buồn, nàng giận. Nhất là hôm đó, vì tự ái, tôi đã không lịch sự đưa nàng về tận nhà.

Hình ảnh nàng luôn luôn xuấât hiện trước mắt tôi, và câu hỏi về nàng luôn luôn ám ảnh trong đầu óc tôi. Cho đến hôm tháng ba năm này, tôi sang tiểu bang California để dự một đám cưới trong gia đình thì trong đám cưới tôi bỗng nhiên gặp lại Hằng, và được xếp ngồi cạnh Hằng, người bạn của Thanh Hương mà năm xưa khi tôi đến thăm nàng và gặp Hằng tại đó vài lần. Bọn sinh viên Sài gon chúng tôi ai cũng biết Hằng vì nàng là một người đẹp của nhà sách Khai Trí thuở bấy giờ. Sau này nhà sách Khai Trí bị nhà nuớc tịch thu, một hôm dạo chơi đường Tự Do, lúc này đổi là Đồng Khởi, tôi thấy Hằng đứng bán hàng cho một cửa hàng quốc doanh. Thấy nàng, tôi không dám chào hỏi vì mới giải phóng ai cũng thận trọng, gặp người quen không dám chào hỏi. Lúc đó, phần đông dân ngụy đều thất nghiệp, không hiểu sao nàng lại được đứng bán hàng với các nữ đồng chí Bắc kỳ 75.


Gần ba mươi năm cách biệt, Hằng bây giò dã là một lão bà ngũ tuần, nhưng nhờ mỹ viện và biết cách giữ gìn thân thể cho nên dù lớn tuổi, khuôn mặt và thân hình của nàng vẫn không thay đổi mấy. Gặp nàng, tôi hỏi thăm sức khoẻ và hỏi luôn về Thanh Hương. Hằng cho biết Thanh Hương vốn là cán bộ nội thành, nằm trong tổ chức vận động thanh thiếu niên. Anh nàng là một luật sư trẻ, hăng hái, là đệ tử thân thiết của Nguyễn Hữu Thọ. Nhà nàng là điểm liên lạc của mặt trận. Cả hai anh em nàng đã tham gia hoạt động từ lâu. Nàng thường tổ chức party, mừng sinh nhật cùng đám bạn trai nhảy múa là để che mắt cảnh sát, mật vụ những khi tổ chức này hội họp bí mật trên căn gác nhà nàng.

Sau tết mậu thân, tổ chức bị lộ, hai anh em nàng vào mật khu hoạt động. Anh nàng cũng như giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Lữ Phương trở thành cánh tay mặt của Nguyễn Hữu Thọ, và đuợc nằm trong chính phủ của Mặt Trận Giải phóng miền Nam. Còn nàng khi trở về, trở thành cán bộ nòng cốt của thành phố Hồ Chí Minh. Nàng rất tốt với bạn bè.

 Nhờ Thanh Hương cấp gíấy chứng nhận là người có công với Mặt Trận, đã cộng tác với Mặt Trận trong thời kỳ hoạt động bí mật, Hằng đuợc đảng và ban công quản thành phố cho đứng bán hàng tại một của hàng quốc doanh đường Đồng Khởi. Trước 1975, cộng sản miền Bắc hứa hẹn với đám Mặt Trận là họ sẽ tôn trọng quy chế miền Nam độc lập, trung lập với năm thành phần kinh tế. Nhưng sau khi chiếm Miền Nam hai năm, cộng sản lập tức trở mặt, giải tán Mặt Trận, quyết tâm thống nhất cả nước và đưa miền Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đa số thành viên Mặt Trận bất mãn và phản đối trong đó có anh em Thanh Hương. Hai anh em nàng biết mình bị lường gạt cho nên cùng một số thành viên Mặt Trận tìm cách bỏ nước ra đi. 

Hai anh em nàng kín đáo tổ chức việc chôn dầu, mua bến bãi. Nhưng mọi hành động của anh em nàng đều không lọt cặp mắt theo dõi của công an thành. Họ không muốn bắt sống vì sợ mất uy tín đảng, họ muốn mượn biển cả giết hai anh em nàng một cách kín đáo. Họ chờ cho tàu của anh em nàng ra khơi một đoạn, rồi cho công an đuổi theo, xã súng bắn xối xả. Kết cuộc, con tàu chìm xuống biển sâu. Vài ngày sau, người ta tìm thấy xác của Thanh Hương và một vài người khác dạt vào Bãi sau Vũng Tàu, còn xác của anh nàng thì không biết trôi dạt nơi đâu hay đã được đảng thu vén gọn gàng và kín đáo để khỏi gây dư luận xôn xao trong quần chúng

  XV. BỮA TIỆC TẤT NIÊN

 
Khoảng 1985, tôi giao thiệp khá rộng rãi với bạn bè. Trước 1975, tôi chỉ giao du với các đồng nghiệp trong trường. Việc trường, việc nhà, và việc nghiên cứu đã chiếm nhiều thời giờ của tôi, không cho phép tôi mở rộng vòng tay lớn. Sau khi thất nghiệp, tôi hưởng ngày Trời, tháng Phật ung dung vô ngại. Ai rủ đi đâu tôi cũng đi. Ai mời ăn nhậu thì tôi cũng hăng hái tham gia.Người này giới thiệu người kia, người kia giới thiệu người nọ, thành thử mỗi ngày mối quan hệ bạn bè càng rộng rãi. Niềm vui của chúng tôi là kéo nhau vào một quán nhỏ bên lề đường dưới gốc me uống cà phê hoặc nhậu nhẹt và bàn chuyện trời đất. Bà vợ của anh bạn tôi gọi chúng tôi là '' người Việt gốc Me''! Tôi vui vẻ cười và cho đó là một ý kiến khá ngộ nghĩnh!


Bây giờ nghĩ lại những ngày đó thật vui. Trong địa ngục, chúng ta vẫn thấy những ngôi sao ở phường trời xa! Và tình bạn trong gian khổ vẫn thiết tha, nồng đượm nhất! Uống cà phê như thế gọi là uống ''cà phê vẫy''! Một sáng nào hay chiều nào đó , ta đạp xe đạp đi lang thang trên đường phố. Bỗng nghe sau lưng như có ai gọi mình. Dừng xe quay lại thì thấy có hai ba bàn tay vẫy rối rít. Không rõ là ai vẫy mình hay vẫy người khác. Tiến lại gần hơn thì thấy rõ trong đám bảy, tám người ngồi dưới gốc me, có vài người mình quen. Thế là xuống yên, dựng xe vào gốc cây, ngồi xuống bàn, rồi giới thiệu nhau, hỏi uống gì, rồi cầm đũa, và nâng chén, không cần biết trong túi còn bao nhiêu tiền, vì tuy nghèo, nhưng trong đám, lúc nào cũng có một hai Mạnh Thường Quân hay Tín Lăng Quân sẵn sàng bao cả bọn! Đó là phong thái của bọn '' ngụy quân, ngụy quyền Sài gòn'' chúng tôi lúc bấy giờ, không biết nay nay còn giữ như thế hay đã biến mất theo ''cơ chế mở cửa''?

Bạn bè chúng tôi đủ loại, là giáo sư, kỹ sư, luật sư, thẩm phán, nhà báo, nhà văn, sĩ quan,binh sĩ và sĩ quan, có kẻ ngồi tù chế độ một hai lần. Một ông bạn già tôi ngồi tù về nên khi ra tù có một nhóm bạn hữu vốn là bạn tù thường đến chơi nhà. Tôi thường gặp họ nên trở thành quen thân, cùng đi ăn nhậu và lui tới nhà. Trong đó có Lê Hiền, làm Tổng thư ký cho tờ Đại Dân Tộc (?) của Tôn Thất Đính, và ông hình như cũng là chủ bút của tờ Bút Thép cho nên Lê Hiền cũng được gọi là Bút Thép. 

Được giới thiệu là ông cũng đi ngồi tù về.( Hồi ký của Nhã Ca mấy trang đầu cũng nói đến 26 văn nghệ sĩ bị giam tại Phan Đăng Lưu có Lê Hiền). Tôi đã đến nhà Lê Hiền chơi. Đây là một dãy nhà khang trang , hai ba tầng lầu, có hàng chục phòng ở đường Lê Lai, gần nhà ga Sài gòn. Tôi ngạc nhiên hết sức. Vì lúc này, phong trào đánh tư sản đã qua. Anh chị tôi là tư sản, nhà nhỏ hơn mà bị tịch thu, sao ngôi nhà to lớn của Lê Hiền thì không? Tôi nghi ngờ căn nhà này là cơ quan của cộng sản mà Lê Hiền là một tay hoạt động bí mật. Tôi hỏi dò một ông bạn họ Nguyễn vốn là thiếu tá an ninh tổng thống phủ, ông trả lời:
- Lê Hiền tên thật là Cao Minh Hựu, là bà con với Cao Minh Chiếm!

Nên biết Cao Minh Chiếm là giám đốc công an Sài gòn lúc này. Dòng họ Cao Minh của Cao Minh Chiếm cũng như dòng họ Hà Huy của Hà Huy Giáp ở miền Nam vốn là cộng sản gộc! Tôi đem việc đó nói với các bạn. Một ông bạn thẩm phán cự tôi bảo rằng tôi chia rẽ bạn bè, nói xấu người tốt. Anh còn bảo rằng bà Lê Hiền là người quốc gia vì khi anh đến nhà, nghe bà Lê Hiền thường chế nhạo nhà nước bây giờ nhiều cục quá nào là cục đường bộ, cục đường thủy, cục đường phèn và cục. . .

Tôi nói với ông bạn già việc này thì sau đó ông cũng cho biết theo tin tức của ông Lê Hiền là một trung tá cộng sản ở Bến Tre. Sau đó, có người cho biết đã nhìn thấy một văn bản do trung tá Lê Hiền ký. Sau việc này, chúng tôi vẫn giữ thái độ như cũ với Lê Hiền. Nhiều khi Lê Hiền rủ chúng tôi đến nhà người nọ người kia. Ông cho biết ông là bạn cũ hoặc có liên hệ bà con với những người này. Chính việc lui tới này là dịp mà Lê Hiền điều tra thăm dò một số tổ chức chống cộng.
Ông thường hỏi dò tôi:
- Trung cộng có khả năng tấn công Việt Nam lần thứ hai không?
Đã biết rõ Lê Hiền nên tôi luôn luôn giữ thế thủ:
- Trung cộng không dám tấn công Việt Nam lần thứ hai
vì lần thứ nhất đã bị quân đội Việt Nam đánh cho đại bại . Hơn nữa, nếu Trung quốc tấn công lần thứ hai sẽ bị Liên Xô đánh thẳng vào Bắc Kinh!
- Cộng sản Việt Nam có tồn tại lâu dài không?
- Không.
- Tại sao? Có chứng cớ gì không?
- Kinh Dịch nói cực âm sinh dương, cực dương sinh
âm. Trên thế gian này không thế lực nào tồn tại lâu dài!
Ông cười mà bảo:
- Đó là lý luận cổ hủ, và chung chung, không có tài liệu cụ thể.
Tôi bảo:
- Đúng! Tôi chỉ lý thuyết suông, làm gì có tin tức chính xác!
Ông thường tỏ cho tôi biết lực lượng của ông đã bắt liên lạc với mấy người Mỹ. Tôi nghe với thái độ dửng dưng cũng như không hỏi han gì về việc này. Tôi cố ý tỏ cho ông biết tôi không thích cộng sản nhưng không chống cộng sản vì tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, không có mộng tưởng lấp biển vá trời!

Nhà của ông bạn già tôi sáng tối trưa chiều đều đông văn hữu đến uống rượu ngâm thơ và bàn thiên văn địa lý. Tâm hồn ông bạn cởi mở nhưng vị trí ngôi nhà lại bất tiện cho việc tâm sự trong một giai đoạn nghiêm ngặt của nền công an trị. Nhà ông ở tại một góc đường mà hai bên nhà đều nằm sát đường đi, phòng khách nằm dưới mắt quan sát của khách vãng lai. . . Một người khách mới gặp tôi buổi đầu tại đây nói:

- Mọi việc đều phải qua ngõ Vinh Sơn!
(Ý nói phải chiến đãu như vụ nhà thờ Vinh Sơn). Nghe y nói thế, tôi vội vàng đứng dậy ra về. Một lần khác, một người được giới thiệu là Sao Trên Trời, Sao Trên Rừng hay Sao Dưới Biển gì đó, gặp tôi lần đầu tại nhà ông bạn già, dã bộc lộ tâm sự:
- Các anh có sinh viên đông đảo, các anh phải đứng lên lãnh đạo. . .!

Mới gặp nhau, chưa rõ thân thế mà đã bàn chuyện quan trọng như thế, thì không phải là người tốt. Một là cò mồi, hay là nông nổi, mà nông nổi, dại dột thì không thể làm việc lớn!
Chính ông bạn già của tôi vốn là người từng trải, lại đã nhiều lần vào tù ra khám mà cũng vụng suy. Ông nghe một vài ông nhà báo, và một vài ông bán trời không văn tự, tin rằng quốc tế đã sắp đặt cho vua Bảo Đại về Sài gòn.

Tôi nói rằng:
- Bảo Đại đã làm vua cả nước, nay còn tham gì làm vua một mảnh Sài gòn bốn bề là cộng sản! Giả sử ông là Bảo Đại, ông có dại gì chui vào lưới không? Trong trường hợp này, dân chúng có dám ủng hộ không? Và phe quốc gia có lợi gì không? Sau 1945, rồi 1954, 1968, và 1975, người ta đã bỏ ra khỏi nước, ai dại gì mà đun đầu trở lại cái tròng cộng sản! Giả sử Bảo Đại về Sài gòn, ông được bao nhiêu quân? Bao nhiêu lương thực để chống nhau với cộng sản? Ai giúp ông vũ khí, tiền bạc để chống cộng? Và quốc tế là ai? Pháp chăng? Mỹ chăng? Mỹ đã tìm cớ rút lui thì trở lại làm gì? Pháp quá yếu, có đủ sức chống Nga, Tàu không?
Cộng sản nay chiếm cả nước, dại gì mà chừa một chỗ nhỏ cho Bảo Đại! Giả sử đó là đề nghị của cộng sản, tất có mưu kế, ông tin vào lời hứa của cộng sản chăng?

Ông tức giận ra về. Tôi biết trong tâm, ông cho tôi là một kẻ hèn nhát, nhưng tôi không để tâm, vẫn lui tới chuyện trò với ông. Ít lâu sau, tổ chức này gồm một ông cựu chủ bút , mấy cựu ký giả và ông bạn già bị cộng sản bắt giam về tội tôn phò Bảo Đại. Chính cộng sản đã tung các tin vịt, đã tổ chức, kêu gọi tham gia mà trong tổ chức đã có một số là công an nằm vùng, cùng đốc thúc hành động để rồi chúng vây bắt lập công và tiêu diệt lực lượng đối kháng. Đó là kế hoạch ''dẫn xà xuất động'' của cộng sản.


Như thường lệ, cuối năm chúng tôi thưòng tổ chức ăn tất niên. Lần này, Lê Hiền đứng mời các bạn ăn tất niên tại tư gia của ông. Khi chúng tôi đến đông đủ, trong phòng khách đã sắp sẵn bàn ghế, chén đũa. Trong phòng khách, một người thân thể to lớn, mặt mũi đen đúa hung dữ như là công an trong phòng tra tấn đứng lo phục vụ. Lê Hiền giới thiệu : ''Đây là chú Sáu, người nhà''!
Chủ nhân mời chúng tôi ngồi xuống, và chú Sáu rót rượu. Nhưng buồn cười và lạ lùng nhất, ly rượu khai vị lại toàn là xăng! Các bạn tôi nói đùa: "Năm nay chắc cháy dữ"! Riêng tôi nghĩ rằng đó là một báo hiệu xấu.
Chúng tôi nâng ly rượu chúc mừng năm mới. Trong khi chờ dợi các món ăn bưng lên, chủ nhà đặt câu hỏi và yêu cầu mọi người lần lượt trả lời.
Lê Hiền hỏi:
- Giả sử nay mai công việc xảy ra, chúng ta nên làm khán giả hay diễn viên?
Các bạn tôi, người thì đáp làm diễn viên, người thì đáp làm khán giả. Đến lượt tôi, tôi đáp lời:
- Tôi không thể trả lời ngay được. Tùy tình hình thực tế mà làm diễn viên hay khán giả. Thí dụ như tôi thích tân nhạc mà người ta yêu cầu tôi ca cải lương, tất nhiên tôi không ca cải lương được! Tôi làm thầy giáo mà yêu cầu tôi thủ vai hát bội, dù tôi muốn làm diễn viên cũng không thể làm được. Mọi việc trong tương lai còn tùy khả năng và lòng yêu thích của tôi, chưa quyết là làm diễn viên hay khán giả.

Sau bữa tiệc tất niên, ngày tháng trôi qua trong yên lặng. Xuân qua, hạ tới và đông lại về. Nhóm chúng tôi lại chuẩn bị tất niên. Các bạn tôi muốn lần này tổ chức tại nhà hàng Nguyễn Tấn Đời ở cuối đường Nguyễn Văn Học mà sau này họ đổi tên là Nơ Trang Long, Bình Thạnh. Tôi khuyên các bạn nên tổ chức tại nhà như mọi năm, không nên tổ chức tại nhà hàng vì trước đây họ cũng lợi dụng ăn tất niên tại các nhà hàng để ra mắt tổ chức này, tổ chức nọ, hoặc họp báo để tuyên bố hoặc ra tuyên ngôn. . . Các bạn tôi không nghe lời. Kết cuộc, tháng chạp năm đó, công an bắt hết những ai có mặt. Riêng tôi và một bạn, cũng là nhà giáo, từ chối không dự nên tai qua nạn khỏi. 

Cũng nên nói thêm rằng ngày các bạn tôi bị bắt, tôi và nhà tôi sang bên nhà nhạc gia ăn giỗ. Khi về, khoảng 5 giờ chiều, tôi định ghé ông ông bạn già trao cho ông bạn một ít giấy trắng để ông bạn sáng tác, dịch thuật ( Lúc này giấy đắt, khó mua). Chẳng may xe hỏng, tôi phải đem thợ sửa mất gần hai tiếng đồng hồ. Xe sửa xong trời đã tối gần bảy giờ. Tôi sợ các con tôi ở nhà chờ đợi, lo lắng nên về thẳng, không ghé thăm bạn già. Hôm sau, nghe tin công an vây bắt nhà bạn, họ chờ mãi cho đến tám giờ tối mới lui binh. May thay, ngày đó không ai ghé nhà ông bạn! Tôi rất mừng vì Trời Phật đã che chở tôi khỏi cảnh ngục tù. Cũng nói thêm nữa, là ngày sau, một ông bạn kỹ sư ( nay tôi quên mất tên) ở Phú Nhuận, đến cho tôi hay các bạn bị bắt. Tôi thản nhiên đón nhận tin trên. Ông bạn tỏ vẻ run sợ.

Tôi bảo:
- Có gì mà phải sợ! Mình không làm gì thì họ bắt mình làm gì!
Một thời gian sau, ông bạn kỹ sư xuất cảnh . Sau mấy năm, các bạn tôi được trả tự do, tôi mới biết trong tù, ngày nào công an cũng tra hỏi về tôi. Các bạn tôi đều trả lời là tôi không tham gia tổ chức. Có người thuật lại rằng ông kỹ sư đến nhà tôi hôm đó là do công an phái tới thăm dò thái độ của tôi ra sao. Đó là kết quả của các vụ án Mười Vân (Đồng Nai) và nhóm Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Mai Văn Hạnh mà hàng ngàn dân Sài gòn bị tai bay vạ gió!


XVI. CHUYẾN VIẾNG THĂM HỮU NGHỊ

Năm ấy, Thụy Điển mời thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm hữu nghị. Phái đoàn gồm mười người trong đó có bác sĩ Tôn Thất Tùng. Mặc dù Phạm Văn Đồng là thủ tướng nhưng cái đinh của cuộc viếng thăm này là giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng. Chuyện kể rằng lúc đó quốc vương Thụy Điển bị bệnh gan mật rất nặng, các bác sĩ Anh, Pháp đành bó tay. Họ bèn giới thiệu bác sĩ Tôn Thất Tùng, lúc này ông còn ở Pháp, sang chữa bệnh cho quốc vương. Nhờ tài giải phẩu, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã cứu được quốc vương Thụy Điển. Đền ơn bác sĩ, quốc vương bèn phong cho bác sĩ này làm Hàn Lâm viện sĩ của Thụy Điển. Sau này, nghe lời tuyên truyền của cộng sản, bác sĩ Tôn Thất Tùng về Hà Nội phục vụ dưới lá cờ cộng sản. Kể từ đó, Thuỵ Điển cũng như Pháp là những nước châu Âu tự do lại lên tiếng ủng hộ lập trường của cộng sản Việt Nam. Hai bên lập quan hệ ngoại giao rất thắm thiết. Thuỵ Điển đã viện trợ cho Hà Nội nhà máy giấy Phú Thọ. Và sau này, khi có phong trào vượt biên, và sau khi khối Đông Âu tan rã, Thụy Điển đã tận tình chiếu cố những người miền Bắc xã hội chủ nghĩa .


Bác sĩ Tôn Thất Tùng là con người đặc biệt. Ông là trí thức,lại thuộc hệ phong kiến, thế mà cộng sản lại chấm ông chẳng qua ông cũng như triết gia Trần Đức Thảo, luật sư Nguyễn Mạnh Từờng là những con mồi đáng giá. Họ dùng ông để tuyên truyền, để đánh bóng cho chế độ mặ c dù họ chẳng cần đến ông.
Sau 1975, tôi gặp một trí thức cũ, giáo sư họ Phạm, đi tập kết về, làm việc tại Viện khoa học Xã hội thành phố. Ông nói:"Nước ta cần nhiều bác sĩ nhưng hiện nay ta không có thuốc tây, không có dụng cụ tối tân thì bác sĩ trở thành thừa thãi. Bác Hồ nói:" Chúng ta cần nhiều đầu bếp giỏi" nhưng nay ta thiếu cá thịt, thì đâu cần đầu bếp gỉỏi ".

Tôi hiểu vị giáo sư này nói thật . Sau 1975, cộng sản không cần trí thức miền Nam, không cần bác sĩ, kỹ sư, giáo sư miền Nam ngoại trừ những kẻ đã cam tâm làm tay sai cho họ như Lý Chánh Trung, Nguyễn TrỌng Văn...vì họ đã có những ông y tá được phong làm bác sĩ , những ông thợ đi chuyên tu vài tháng đã thành kỹ sư. Họ phải đãi ngộ những hạng người này. Và đó chính là quan điểm vô sản chuyên chính.
Bác sĩ Tôn Thất Tùng là con người ngoan ngoản không như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường...đã lên tiếng chống đảng. Ông được cả nước biết đến . Ông đã trở thành đầu đề của một chuyện tiếu lâm tân thời. Chuyện kể như sau: Bác sĩ Tôn Thất Tùng sang Pháp, được các phóng viên báo chí bu lại phỏng vấn. Họ hỏi :
Ông thuộc giòng gỉỏi hoàng tộc, tại sao lại theo cộng sản? Ngoài ông ra, những người hoàng tộc có ai được cộng sản trọng dụng hay không?"

Tôn Thất Tùng đáp:" Nhờ ơn đảng và nhà nước, anh em tôn thất chúng tôi đuợc đảng và nhà nước chiếu cố rất nhiều. Khắp nơi đều có anh em chúng tôi. Bên bộ giáo dục ,có Tôn Thất Học, bên bộ Công an có Tôn Thất Đức, bên bộ ngoại giao có Tôn Thất Lễ,bên bộ Lao Động có Tôn Thất Nghiệp, bên hội phụ nữ có bà Tôn Thất Trinh,Tôn Thất Tiết..."

Sau khi thủ tướng Phạm Văn Đồng và bác sĩ Tôn Thất Tùng đặt chân lên thủ đô Stockholm , vua Thụy Điển đã tiếp đón trọng thể theo nghi lễ dành riêng cho quốc khách.Phái đoàn Việt Nam được mời ăn uống tại những nhà hàng sang trọng nhất và được mời tham quan những danh lam thắng cảnh cùng những cơ sở kinh tế,kỹ nghệ của Thụy Điển. Thành công lớn lao của phái đoàn là đuợc Thụy Điển hứa hẹn viện trợ kinh tế mấy chục triệu mỹ kim. Thủ tướng và phái đoàn hân hoan vui sướng vì họ đã thành công hơn tưởng tượng. Thụy Điển là một nước nhỏ, một nước tư bản nhưng đã dễ dàng với họ hơn là Nga sô, Trung quốc là những nuớc anh em xã hội chủ nghĩa.

Ngày hôm đó, thủ tướng Phạm Văn Đồng rất vui vẻ. Buổi chiều phái đoàn nhận lời mời của bộ ngoại giao Thụy Điển dự một buổi chiêu đãi. Bộ trưởng ngoại giao Thụy Điển lên tiếng ca ngợi công cuộc chiến đấu chống Mỹ của Việt Nam.Tiếp theo,thủ tướng Phạm Văn Đồng được mời lên phát biểu ý kiển.Thủ tướng say men chiến thắng, cám ơn Thụy Điển đã ủng hộ Việt Nam trong cuôc chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược,và ông cám ơn Thụy Điển đã tặng Việt Nam nhà máy giấy Phú Thọ và đã đào tạo chuyên viên cho Việt Nam. Ông nói rằng ban lãnh đạo nhà máy cùng các kỹ sư,công nhân đã tích cực làm việc hết mình vì xã hội chủ nghĩa, vì ngày mai,vì bác Hồ, vì con em. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng,nhà máy tăng năng suất 60%, đủ giấy cho học sinh trong nuớc dùng, đủ giấy để in sách báo...Sau đó là sâm banh, whisky...Và sau đó nữa là buổi chiếu phim đặc biệt. Đây không phải là rạp chiếu phim hoàng gia mà chỉ là một phòng chiếu phim nhỏ của bộ ngoại giao. Âm thanh,màu sắc rất tân kỳ. Ghế ngồi thật êm ái. Thủ tướng nhà ta ước mong phủ chủ tịch cũng có một phòng chiếu phim tương tự .Cuộc chiếu phim bắt đấu.


Trong phòng hoàn toàn mát mẻ và yên tĩnh. Người ta không nghe tiếng rè rè của máy quay phim như ở Việt Nam. Cuốn phim tường thuật trận đá banh giữa Thuỵ Điển và Pháp. Sau vài ly sâm banh, thủ tướng mệt mỏi,đã gật đầu vài lần trên ghế êm ái. Bỗng thủ tướng giật mình, tỉnh như sáo. Đoạn phim sao giống cảnh Việt Nam. Phải rồi.Đó là cảnh Việt Nam. Cảnh nhà máy giấy Phú Thọ Việt Nam.Đây là nhà máy giấy do Thụy Điển viện trợ tiền bạc. máy móc,kỹ thuật. Cảnh ban đêm có đèn sáng khắp nơi .Kìa kìa. Trong phòng giám đốc .Trên tường là một bức hình lãnh tụ Hồ Chí Minh.Một người đàn ông tuổi 50, đầu đội nón cối,mang quần áo nhà binh nhàu nát ngồi trước bàn viết. Có ba tiếng gõ cửa nhe nhẹ. Giám đốc cất tiếng:"Cứ vào!" Một thanh niên khúm núm bước vào, nói nhỏ vào tai viên giám đốc. Viên giám đốc gật gù:"Được". Người thanh niên trở ra, sau đó một người đàn bà béo phệ bước vào. Hình ảnh và âm thanh rất rõ:
-Chào đồng chí giám đốc.
Viên giám đốc đáp lại:" Chào đồng chí."
Người nữ ngồi xuống bên cạnh, mở xách tay,lấy một gói ba số 5 đặt lên bàn giám đốc, lễ phép nói:"Thưa đồng chí giám đốc.Xin mời đồng chí dùng thử. Đây là thuốc ngoại hóa, hàng Mỹ,thơm lắm." Viên giám đốc im lặng. Người đàn bà bèn mở xách tay, lấy một gói trà, bước tới bàn bên cạnh,lấybình trà rửa sạch,thay bã trà , pha một bình trà mới, lễ mễ bưng lại bàn giám đốc. Bà rót trà ra chén tống,sang qua chén nhỏ,bưng mời viên giám đốc." Xin mời đồng chí dùng trà. Đây là trà Tam Đảo, thứ đặc biệt, sản xuất riêng cho các đồng chí lãnh đạo trung ương."Viên giám đốc bưng chén trà lên môi uống từng ngụm nhỏ,ra vẻ thích thú. Người đàn bà kéo ghế ngồi bên cạnh viên giám đốc, rồi hỏi: "Đồng chí đã duyệt 5 tấn cho em chưa?" Viên giám đốc ngẫm nghĩ một lát, rồi trả lời:" Bây giờ tình hình khó khăn lắm. Trung ương cho người về thanh tra luôn luôn, cho nên bây giờ chúng tôi rất khó lòng duyệt y một số giấy lớn như thế."
Người đàn bà nũng nịu:" Xin đồng chí duyệt y. Chúng em xin trả gấp đôi. Đồng chí muốn gì chúng em cũng chiều lòng." Viên giám đốc cười ha hã, bước tới ôm người đàn bà,và kéo người đàn bà vào phòng bên cạnh, nơi nghỉ đêm của giám đốc nhà máy.Hình ảnh và âm thanh rất rõ rệt và khêu gợi. Viên thủ tướng già cảm thấy toàn thân nóng bừng.


Lại một cảnh khác trong nhà máy, công nhân đang đứng ngồi ngổn ngang. Có người nằm ngủ dưới dàn máy. Có người hút thuốc lào trong khi máy đang chạy.Vài ba công nhân ngồi nói chuyện gẩu ,hoặc thì thào bàn tán. Hình ảnh hiện lên rất rõ, công nhân lấy một số giấy , hoặc chất hóa học giấu kín trong người, hoặc trong ba lô.
-Ống kính lại chuyển mục. Bên ngoài sân nhà máy, một số hoạt động khác đang tiếp diễn. Một số công nhân đang mở kho khuân vác những bao thùng,trao tiền bạc, chuyển ra xe hơi, xe thồ...rồi biến dạng. Họ làm việc rất tích cực,nhanh chóng và bí mật.
Phòng chiếu phim gắn máy lạnh mát rượi mà vị thủ tướng già đổ mồ hôi hột.
"Chết thật, tụi nó mà gắn một máy quay phim trong phòng của mình thì tiêu tùng sự nghiệp cách mạng của mình"!

Không biết bọn tư bản có quay lén Phạm Văn Đồng hay không, nhưng Lê Đức Thọ đã quay hết cuộm phim đời "cách mạng" của ông cũng như các đồng chí khác nhưng ông ngoan ngoản, không chống đối phe "nhị Lê" nên sống mãi trong quang vinh cho đến 95 tuổi!

 XVII. THƯ GỬI BẠN

Bạn thân mến,
Từ đó đến nay, chúng ta đã xa cach nhau gần hai mưoi năm. Khoảng 1980, chúng tôi nghe tin bạn và gia đình vượt biên. Và từ đó, chúng ta không có tin tức gì nữa. Từ 1995, gia đình tôi ra đi theo diện đoàn tụ gia đình. Ở đây, thỉnh thoảng tôi nhờ đến bạn và những ngày tháng ở Mỹ Tho. Hỏi thăm bạn bè các nơi, tôi mới biết địa chỉ bạn. Do đó tôi đã viếät thư cho bạn.
Trong thư trả lời, bạn đã hỏi tôi trong thời gian ở tại Việt Nam, tôi đã làm gì để sinh sống. Thư này tôi sẽ trả lời bạn về câu hỏi trên.

Bạn ạ, sau 1975, sự nghiệp gõ đầu trẻ của tôi chấm dứt. Sau một thời học tập chính trị, họ cho chúng tôi nghỉ việc vì họ không cần chuyên môn của chúng tôi. Hơn nữa có lẽ họ cho rằng chúng tôi không thành khẩn học tập và không thành thực khai báo. Cán bộ quân quản nhiều lần nhắc nhở, khuyến khich chúng tôi phải báo cáo các sự bí mật của chính quyền cũ, nhưng chúng tôi không biết gì để tố cáo, và chúng tôi không thể nào vu cáo đồng nghiệp để giữ nồi cơm như một số người trước đây thường tỏ ra rất anh hùng, rất quân tử. Tục ngữ, ca dao ta thật thâm thúy và gợi hình gợi cảm hết sức khi nói "Cháy nhà ra mặt chuột" !

Bạn bè chúng tôi có người đã ra đi trước 30 tháng tư, một số cứ lần lượt ra đi vượt biên. Một số ngồi tù không biết bao giờ mãn hạn. Ngồi trong lớp học tập chính trị cải tạo tư tưởng là một cực hình. Chúng tôi phải nghe những tên cán bộ trung ương ngu xuẩn khoe khoang miền Bắc chỗ nào cũng có dầu lửa, chỉ cần cắm ồng đu đủ xuống đất là dầu lửa tràn lên, tha hồ nấu bánh chưng, bánh tét! Chúng tôi cảm thấy cô đơn vô cùng trước những khuôn mặt xa lạ và cuộc đời dâu bể. Tôi nói nhỏ với một ông bạn thân:
- Nước này nào phải nước ta,
Mình là ngoại quốc lo mà hồi hương!
-Trường này nào phải trường ta,
Nên về chuẩn bị để ra nước ngoài!


Sau đó nhiều bạn đồng nghiệp đẵ vượt biên, riêng tôi không đủ phương tiện nên đành ở lại. Có nhiều người hứa hẹn nếu tôi kêu gọi được mười người thì tôi dược miễn phí. Nhưng tôi không làm nghề quảng cáo được. Tôi đâu dám bảo đảm an toàn cho khách đi trong khi tôi không biết tàu dài mấy thuơc, người lái tàu là chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp. Và chính tôi cũng không biết ngưởi tổ chức đich thực là ai, là tốt hay xấu! Tôi thấy tôi kém tài, và rất phục những người tổ chức vượt biên.


Được một số bạn bè cho biêt Thư Viện Khoa Hoc Xã Hội cần một số cộng tác viên để làm thư tịch Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi và một số bạn bè đến xin việc và đươc thâu nhận. Hàng ngày chúng tôi đọc sách báo và ghi tóm tắt vào những tấm phiếu. Làm được bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu. Làm đuợc một thời gian thì hết việc. Giám đốc thư viện cho biết những ai muốn làm tiếp tục thi đăng ký, nếu đươc nhà nước chấp nhận sẽ được xếp lương hợp đồng 60 đồng mỗi tháng nhưng không được trợ cấp gạo, thịt, cá mắm như những ngưòi cán bộ được vào biên chế. Lúc bấy giò nhà nước quy định rằng những ai tốt nghiệp tiến sĩ quốc gia Pháp thì xếp ngang hàng phó tiến sĩ, còn tốt nghiệp tiến sĩ các loại khác trở xuống cử nhân thì tương đương tốt nghiệp đaị học miền bắc xã hội chủ nghĩa. Bắt chước Nguyễn Khuyến, tôi có câu thơ xúc cảnh :
Tiến sĩ còn chẳng ra gì,
Cử nhân, cao học khác chi thằng hề ! 

Lúc bấy giờ các giáo sư trung học đệ nhị cấp, tốt nghiệp đại học sư phạm hoăc cử nhân văn khoa, khoa học đươc xếp bậc lương 60 đồng có phụ cấp cá thịt gạo muối. Lúc bấy giờ không ai mong muốn gì hơn duợc ở yên Sài gòn, có việc làm và có gạo hàng tháng vài ký. Vì nhu cầu đó, một số người xin làm bất cứ việc gì, miễn là có việc làm để có hộ khẩu tại Sài gòn, nếu không sẽ bi dồn đi kinh tế mới. Đó là một viễn tượng hãi hùng đến đỗi nhiều cán hộ hồi kết bí mật khuyên bà con dù chết đừng bỏ nhà mà đi kinh tế mới! Không ai sống được ở vùng kinh tế mới. Đi rồi cũng sẽ trở về nằm đầu đường xó chợ vì nhà đã bán hoặc bị kẻ khác chiếm mất. Tôi đã mách nuớc cho một vài bạn đến xin việc ở Thu Viện và họ đã được chấp nhận. Riêng tôi hết việc thì nghỉ luôn, không xin làm hợp đồng nữa vì tôi đã có sự tính toán của tôi. 

Tôi thấy rằng không có gạo cấp hàng tháng, với số lương 60 đồng mỗi tháng, mỗi ngày tôi chỉ ăn đuợc hai đồng , lúc bấy giờ quốc doanh bán giá chính thức giá hai đồng một cái bánh mì không cá thịt, nhỏ bằng cổ tay trẻ con và dài bằng gang tay người lớn.Làm việc mà không đủ ăn thì làm gì cho hèn con người! Thật là làm đĩ không đủ tiền son phấn!Nếu người ta thương mến mình, việc hy sinh là tất yếu, nhưng đây chúng ta chỉ là một lũ hàng thần, ngồi với họ chỉ thấy tủi nhục, đớn đau. Rồi con mắt của người khác nữa. Một lão tiên sinh được lưu dụng và tín nhiệm, khi đi vào cổng trường, thoáng nghe một bác gác dan, nhân viên cũ, nói một mình trong ngậm ngùi và mai mỉa:
"Tụi trẻ nó nghỉ hết rồi, ông còn đến trường làm gì nữa?"


Nhiều cán bộ ngoài bắc trong chỗ thân tình góp ý rằng hai vợ chồng chỉ
một người làm việc cho nhà nước là đủ, còn một người phải chạy ngoài thì gia đình mới sống nổi. Nhà tôi lúc bấy giờ dạy học cho nên đuợc lưu dụng. Hơn nữa, tính tôi thẳng thắn, vốn là dân di cư, đã từng sống dưới chế độ cộng sản, cho nên tôi không thích họ, thấy họ là tôi không vui vẻ chút nào! Vì vậy tôi quyết định ở nhà ẩn dật, lánh xa xã hội lúc bấy giờ. Còn việc ẩm thực, tôi nghĩ "trời sinh voi, trời sinh cỏ".


Sau 1975, chúng tôi nương náu tại nhà nhạc gia vì chúng tôi những tính đi xa. Sau mấy lần mưu sự bất thành, chúng tôi đành phải tính việc mưu sinh trong hoàn cảnh mới. Trước 1975, chúng tôi chưa có nhà, phải đi ở trọ, hết Mỹ Tho lại về Sàigòn. Sau 1975, nhà rẻ vì người ta bỏ nhà ra đi vượt biên hay đi kinh tế mới. Được một người bạn mách bảo có một ngôi nhà rất rộng, mặt tiền ở Ngả Năm Bình Hòa Gia Định, cần bán gấp vì họ phải đi kinh tế mới. Chúng tôi đến xem và chúng tôi rất vừa ý. Ngôi nhà rách nát nhưng rộng rãi. Nhà tôi đông người nên tôi chọn nhà này. Chúng tôi vay mượn tiền bạc mua ngay.

Một hôm nhà tôi đi chơ Bà Chiểu bị móc túi mất một số tiền lớn. Nhà tôi buồn bực, bèn nghĩ cách buôn bán để nuôi sống gia đình. Lúc bấy giờ trong chế độ cộng sản, gạo là vật quý giá nhất, cần thiết nhất. Cán bộ thì đuợc cấp khoảng 16 ký hay 13 ký, còn dân chúng Sài gon ban đầu 12 ký, sau rút còn 6 ký. Nhiều lúc không có gạo, dân chúng phải mua khoai lang, sắn hay mì hột mà dân chúng thời đó gọi là bo-bo. Thực trạng xã hội đã đươc trẻ con khắp hang cùng ngõ hẽm hát thành lời:
"Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá"!

Nhà nước cấm buôn bán gạo nhưng trong dân chúng việc mua bán ,trao đổi lại là cần thiết. Có những anh công nhân độc thân không ăn hết 16 ký gạo, họ phải bán lấy tiền xài. Và cũng có nhiều người không đủ gạo ăn phải mua. Cũng có nhiều người không ăn được gạo tổ mục nát, hội hám phải bán tống bán tháo đi cho heo ăn! Và chúng tôi nghĩ rằng bán phở, bán hủ tiếu thì sợ ế, còn gạo không ai mua thì ta ăn. Chẳng sợ thua thiệt, mât mát! Vì vậy chúng tôi bèn thu mua gạo và bán gạo tại nhà! Nhà tôi ở mặt tiền có thể buôn bán nhưng lại không ở nơi thuân tiện vì vắng người. Mẹ vợ tôi an ủi Mình có duyên thì ở đâu cũng có khách tới mua bán. Sau này tôi nhận thấy quả đúng như vậy.

Công việc mua bán thuận lợi. Lúc đó nhiều nhà giáo muốn bắt chước chúng tôi buôn bán nhưng họ không thể xoay xở vì không có địa điểm thuận lợi, không có vốn, nhất là không đủ can đảm ngồi bán hàng. Nhà tôi đi dạy buổi sáng, buổi chiều ở nhà lo việc buôn bán. Các con tôi đi học về thì thay nhau ra trông cửa hàng. Tôi phụ trách việc chở hàng từ xa cảng hay tại chợ gạo Trần Chánh Chiếu Chơ Lớn. Lúc bấy giờ gạo là đồ quốc cấm, chính phủ cấm vận chuyển lương thưc từ tỉnh này qua tỉnh khác. Địa phương chỉ cấp giấy cho phép một người mang đi đường vài ba ký gạo ăn đường mà thôi. Còn trong địa phương, mỗi người chỉ mua đuợc mười lăm hay hai chục ký thôi. 

Chính vậy, một nghề mới ra đời. Người ta đa số là phụ nữ, mỗi ngày đi Mỹ Tho, Long An mua lén vài chục ký gạo về bỏ mối tại Sài gòn thì cũng đủ ăn! Mỗi ngày tôi đi mua hai, hay ba chuyến. Lúc đầu, nhà nước tính đưa dân Miền Nam tiến lên nghèo đói bằng miền Bắc, nghĩa là cũng tính bắt dân bỏ sản xuật cá thể tiến lên Hợp tác xã. Dân miền Nam phản ứng lại bằng cách bỏ ruộng hoang, chỉ trồng mỗi nhà vài công đủ ăn.Nhà nước khuyến khích trồng lúa, đánh thuế nặng các loại cây ăn trái thì họ chặt hết dừa,mãng cầu, ổi, sầu riêng. Trước sức phản ứng của dân, đảng đành rút lui. Người ta lại đua nhau cằy cấy tự do, do đó lúa gạo nhiều. 

Trong khi đó ngoài bắc tiến lên XHCN nên đói nhăn răng.Đảng đành kêu gọi đưa gạo ra bắc bán. Đây là dịp để các tay tư sản đỏ làm giàu. Tuy nhiên cá nhân đi đường đem nhiều gạo thì không đuợc.Aáy là việc đời con kiến đi không lọt nhưng con voi đi lọt ! Dẫu sao thì gạo về Sài gon vẫn dễ hơn trước.Lúc này, các con tôi đã lớn, thay tôi mua gạo. Tình hình đã thay đổi. Nhu cầu mua gạo nhiều hơn vì người ta bải bỏ việc bán gạo tổ. Chúng tôi không cần chở bằng xe đạp nữa. Bây giờ chúng tôi mua mỗi lần năm sáu tạ gạo, một tuần đi mua vài lần, và giao việc chở hàng cho các tay xich lô đạp hay xich lô máy.


Tôi bán đủ thứ thực phẩm cho người và gia súc. Ngoài gạo, tôi bán cám, tấm, thóc. Thứ nào cũng có ngưới mua, vì trong xã hội chủ nghĩa, thiếu gạo và thiếu thịt cho nên người ta phải trở lại cái thời Gia Long lập quốc, mỗi nhà phải nuôi vài con gà để tự túc. Công việc buôn bán thực phẩm dù sao cũng đủ cho gia đình tôi có gạo ăn.

Ngoài buôn bán thực phẩm, chúng tôi còn có một nguồn lợi khác. Chúng tôi bán nước đá. Chúng tôi có một cái tủ lạnh của Ý đã cũ, nhưng rất tốt. Đó là tủ lạnh thuộc lô cuối cùng của chị họ tôi, một nhà xuất nhập cảng ở Sàigon, bán rẻ cho tôi khoảng 1972 khi tôi về Sàigon. Sài gòn trời nóng quanh năm. Dân ta thường có thói quen uống đá lạnh. Mỗi bữa ăn đều phải có trà đá, hay nuớc lạnh có đá, mỗi người làm một ly. Trước buổi ăn, trẻ con chạy đi mua nuớc đá khắp nơi.

Chúng mua nước đá tại các quán cà phê, hay tại các tư gia có bán đá. Trong xã hội chủ nghĩa nước đá trở thành xa xỉ phẩm. Thành thử bán đá rất được giá. Ngoài bán nuớc đá, chúng tôi còn làm kem chuối, tức là ép trái chuối, thêm nhân đậu phụng rang, dừa bào, bỏ vào tủ lạnh cho cứng như đá là đã có một món quà ngon cho trẻ con. Riêng cái tủ lạnh bán đá và bán kem chuối, chúng tôi thu nhập bằng sáu luơng giáo viên cấp ba. Nếu chúng tôi quen biết nhà máy nước đá, mỗi ngày mua một cây thôi,chúng tôi có thể lời hơn nữa!Tôi nói đùa với nhà tôi rằng tôi có đến bảy cô vợ giáo viên cấp ba!

Ở trong chế độ cộng sản, công an theo dõi mọi người, mọi việc. Mỗi công an khu vực phụ trách trông coi 15 hay 25 nhà (hộ).Những người thuộc quân đội và viên chức chế độ cũ thì bị chú ý đặc biệt. Những người sửa xe đạp, thợ cắt tóc, bán thuốc lá trước cửa nhà ta chính là những chỉ điểm viên, có nhiệm vụ báo cáo hàng ngày cho công an ai đến nhà ta, mấy người, hình dáng, tên tuổi, số xe, thời gian. Họ còn phải báo cáo mỗi ngày ta làm gì, đi đâu, mấy giờ trở về. Họ bắt buộc phải làm việc này nếu họ muốn hành nghề, nếu từ chối họ phải đi kinh tế mới.Lúc này, cộng sản bắt bớ nhiều quân nhân và viên chức cũ, gán cho họ nhiều tội.Tôi đi đâu cũng có người theo dõi vì họ nghi ngờ tôi viện cớ đi mua gạo để liên lạc với phản động.


Như đã trình bày, tôi mua lúa để bán cho dân chúng vì vùng tôi ở là ngoại ô, nhiều người chăn nuôi. Hơn nữa, ở chế độ xhcn, thiếu cơm, thiếu thịt, người ta phải trở lại cái thời Gia Long phục quốc để tự túc kinh tế. Chợ bán lúa này mở rất sớm, sáư bảy giờ sáng đã đông người mua bán, bảy tám giờ đã tan,thành thử tôi phải đi thật sớm.

 Các bà này ở Mỹ Tho, Long An lên bán lúa tuơi hay lúa uớt cho nên tôi phải đem về phơi hai ba ngày kẻo lúa mọc mầm. Nhiều cán bộ ngoài bắc đi qua cho là một điều xúc phạm chế độ, vì họ thấy tôi ngày nào cũng phơi lúa và họ cho rằng tôi là cự phú, có nhiều lúa gạo.Họ báo cáo với công an, kết cuộc một sáng tôi đi mua lúa về thì thấy người đầy nhà. Ho hỏi tôi còn bao nhiều gịạ lúa để họ mua. Tôi nói còn 6 giạ, cọng với hai dạ tôi mua về là tám giạ.Lời tôi nói đúng với lời nói của nhà tôi. Họ thấy luá tôi mua về còn ưót và họ hiểu tại sao tôi phải phơi lúa. Vả lại sáu gịa lúa (mỗi giạ là một thùng săt tây đựng dầu hôi 20 lít) lúa xấu không phải là nhiều cho nên họ nói rằng họ đi uống cà phê rồi sẽ trở lại mua, nhưng sự thực thì họ rút lui.

Tôi thường ngày ngồi ở nhà ngoài, vừa trông hàng, vừa đọc hay viết. Tôi muốn tíếp tục công việc viết lách của tôi cho dù lúc này những việc làm đó đã trở thành vô ích mà còn có hại. Nhưng tôi nghĩ rằng ngày xưa Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú cũng viết trong thời loạn và không nghĩ rằng tác phẩm của họ được in ra và phổ biến trong quần chúng.
Trước kia ở đường Lê Văn Duyệt ( Cách Mạng Tháng Tám) tôi thỉnh thoảng đến tham dự hội Trí Thức Yêu Nước tại đường Nguyễn Thông, nhưng sau này, tôi ở nhà luôn, nhất là sau khi dời về Gia Định tôi không bao giờ lui tới nữa vì chán những bộ mặt của Lý Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, và tôi nghĩ tôi là trí thức nhưng không là trí thức xã hội chủ nghĩa, tôi yêu nước, nhưng không yêu chủ nghĩa xã hội, tôi và họ khác nhau.
Khoảng 1980, tôi đươc mời tham dự hội nghị Nguyễn Trãi. Tôi viết bàì
Nguyễn Trãi Thống Nhất Ngôn Và Hành . Cán bộ Khoa Học Xã Hội đến nhà tôi bảo: Bài của tôi là nói bóng nói gió về chế độ như Thiệu đã nói : Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm. Ho lại nói: Nguyễn Đình Thi là một nhà văn nổi tiếng, đã viết bài Nguyễn Trãi ở Đông Đô. Trong bài, Nguyễn Đình Thi nói rằng trong tim con người Việt Nam đềùu có hình bóng một chú ba. Lời nói này động đến chế độ, nhất là tại triều đình bấy giờ chia ra hai phe, một phe thân Tàu, một phe thân Nga. Phe thân Tàu cho đó là một lời nhục mạ cho nên ho đánh Nguyễn Đình Thi không nương tay!Từ đó tôi thật sự rút lui, không tham gia bất cứ hội nghị nào, tổ chức văn hóa nào của nhà nước vì tôi biết tôi với họ như nước với lửa.Tuy nhiên tôi vẫn say mê công việc viết lách cho riêng tôi vì đó là điều tôi ưa thích. Hơn nữa đó là một công việc luyện tập để cho tinh thần mình và thể xác mình không chết dần chết mòn trong cái nhà tù vĩ đại này.


Việc tôi ngày nào cũng ngồi đánh máy khiến cho công an chú ý bởi vì ngoài bắc chỉ có cán bộ khoa học mới làm công tác nghiên cứu và được phép dùng máy chữ. Nay tôi ngày nào cũng đánh máy, ho nghi tôi đánh máy tài liệu chống đảng và chính phủ như các tổ chức khác. Họ đi hỏi thăm các người hàng xóm của tôi. Họ giả vào mua hàng, vào bàn tôi chuyện trò, xem tôi đọc sách gì, viết gì. Lẽ dĩ nhiên trước mặt tôi là tài liệu Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông? do Hà Nội xuât bản mà tôi đã mượn ở thư viện về. Tôi nói với họ là trước đây tôi đã xuât bản một cuốn sách về Nguyễn Trãi, nay tôi thấy cần viết lại cho hợp với thời đại mới, nhất là cho đúng đuờng lối Mác Lê. Tôi cho họ coi bản thảo. Họ còn cho những người đi mua giấy báo cũ vào nhà tôi thu mua giấy vụn. Tất nhiên tôi cố ý bỏ vào đống giấy vụn của tôi những trang tôi đã viết về Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông mà tôi đã xem xét cẩn thận để cho họ mang về công an thành phố.


Công việc buôn bán này khiến cho tôi suy nghĩ. Nếu con người không cần vinh hoa phú quý, chỉ sống an bần lạc đạo thì đâu cần phải quỳ gối khom lưng!
Và đừng coi khinh những nghề tầm thường. Đừng nghĩ rằng tất cả những ông giám đốc đi ô tô, ở nhà lầu trong thời tư bản trước đây là giàu sang. Một số có thực chất, thực thể, nhưng một số chỉ là cái vỏ bề ngoài.Nhà lầu đấy nhưng là nhà thuê, xe ô tô đấy nhưng là ô tô mượn, cái công ty, cái cửa hàng ấy sắp sửa khánh tận. Thu nhập của các giám đốc thuộc loại này thua xa thu nhập liệu của các cô ngồi bán thuốc lá lẻ trước rạp ciné. Ngay tại các nước tư bản, thu nhập của công nhân có thể cao hơn kỹ sư, và kỹ sư cũng có thể thất nghiệp.

Tôi nghĩ đến quá khứ, chúng ta cũng có nhiều khuyết điểm. Nhiều công chức, nhiều nhà giáo ganh nhau từng chỉ số lương, từng ngạch trật, từng giờ phụ trội ở trường công, từng giờ dạy thêm ở trường tư. Những thứ đó có ăn thua gì đâu, nó chỉ đáng một buổi bán hàng của một cô bán thuốc lá, hay một vài chai bia, một vài tô cháo lòng của một quán nhỏ ở ngoại ô trong một buổi chiều tà. Ở Việt Nam có đứa giết người chỉ vì vài chục bạc, nhưng ở đây có nhiều kẻ đâm chém nhau, luờng gạt nhau, cướp bóc nhau để tranh một cái không phải là tiền bạc, hay danh giá! 

Bây giờ đây, sự thật đáng buồn, người ta tranh nhau, chưởi nhau năm này qua năm khác, bày trò lắm trò khỉ chỉ vì một cái hư danh, như là chủ tịch hội Văn Chưởi Thề Quốc Tế, là một hội đã có tiếng tăm từ hồi ở Việt Nam. Trước 1975, hội quy tụ nhiều anh tài mà chủ tịch hội là một nhân vật rất đáng kính, là một ông nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhà tu,ông làm việc tích cực khiến cho bộ hạ ông cứ ép ông ngồi hàng mấy nhiệm kỳ, và ông cũng nghĩ rằng ngoài ông ra không ai có thể đảm đương được chức vụ nặng nề và cao quý này, và đó là một sự hy sinh trọn đời giống như Hồ Chủ tịch vĩ đại và Ngô Tổng thống anh minh.

 Việc trường kỳ giữ chức chủ tịch của ông khiến cho một hội viên là một kỳ nữ rất đáng kính, cũng là nhà văn, nhà thơ,nhà giáo, nhà họa, đăng báo Văn học dài mấy chục trang, chửi " mặt thằng cha láng bóng như váy lĩnh đàn bà!" Chẳng trách người ta ngồi lỳ, bàu bán gian lận hoặc dùng tiền bạc mua chuộc chức chủ tịch nước, tổng bí thư đảng, tổng thống, hoặc thủ tướng vì danh và lợi của nó rất lớn.Và như vậy, ăn một mình thì nhiều hơn là chia cho người khác, do đó độc tài, độc đảng làm sao chịu đa đảng, đa nguyên!


Và việc buôn bán này cũng cho tôi thấy một vài điều khác. Có lẽ con người có số mệnh. Mẹ vợ tôi là một thương gia từ nhỏ. Nhưng nhà tôi là một người ghét buôn bán. Trong thời gian cư ngụ tại nhà nhạc gia, một ông lão quen biết đã xem số tử vi nhà tôi và quả quyết rằng nhà tôi có tay thương mãi,và chúng tôi sẽ ở nhà vào nơi buôn bán thuận lợi "nhất cận thị, nhị cận giang". Lúc đó chúng tôi không tin, nhưng sau này quả đúng như vậy. Chính nhà tôi đứng ra tổ chức việc buôn bán và đã thành công tốt đẹp. Và sau khi tôi mở cửa buôn bán, con đường tôi ở trở thành một cái chợ.

Tôi nghiệm thấy rằng con người có định số. Thu nhập của chúng tôi dường như thuộc về tiền định. Mỗi ngày chúng tôi thu nhập giống nhau, chỉ xê xích con số nhỏ.Nếu chúng tôi bán ế, thì vài hôm sau, chúng tôi sẽ có món lợi khác như là quà tặng của các em tôi ở ngoại quốc gửi về. Nếu tôi có nhiều tiền hơn định số, số tiền sẽ bị tiêu đi vì bệnh tật hay sửa nhà cửa. Tôi có một anh bạn họ Lê, tiến sĩ kinh tế học ở Anh quốc về, hàng ngày đạp xe đạp làm nghề bỏ mối bánh trái sản xuất tại Chơ Lớn cho các cửa hàng tạp hóa và bánh kẹo khắp Sàigon. Anh cho biết anh cũng có nhận định giống tôi về điểm này.

Như đã nói ở trên, mẹ vợ của tôi là một tay buôn bán từ thuở nhỏ, lúc nào cũng bán đắt hàng. Không bữa ăn nào được ngồi yên chỗ. Hễ bưng bát lên là đã có người gọi cửa kêu mua thứ này,thứ kia. Trước khi ra đi nước ngoài theo diện bảo lãnh, bà đã không còn bán hàng được nữa. Và gia đình tôi cũng vậy. Khi các con tôi đi làm có lương tiền, thì thu hoạch đã giảm sút. Đến khi chúng tôi sắp sửa ra đi thì công việc buôn bán hoàn toàn đình trệ.


Ngoài ra, những điều mà người ta gọi là mê tín, dị đoan lại là những thực thể. Hồi tôi còn trẻ, đi chơi chợ Bến Thành, thấy những bà bán hàng ế thường chửi bới và lấy giấy đốt vía phong long. Tôi nghĩ rằng mấy bà này mê tín. Nhưng sau này khi buôn bán, tôi nhận thấy con người ta có kẻ nhẹ vía, người nặng vía. Người nhẹ vía là người may mắn, có ảnh hưởng tốt cho môi trường buôn bán. Khi buôn bán, nếu người chồng nhẹ vía thì nên mở cửa hàng thì công việc buôn bán suốt ngày sẽ thuận lợi. Còn khi đã mở cửa hàng rồi, công việc buôn bán lại cũng tùy thuộc vào người tới mua đầu tiên. Nếu người mở hàng là người nặng vía, suốt ngày chắc là ế dài. Nhà tôi là người nhẹ vía, cho nên khi đi chợ, thường bị các bà bán hàng lôi kéo, năn nỉ mua dùm để đươc hên. Thật vậy, hàng nào nhà tôi đến mua, thì lập tức người ta ở đâu bảy tám người ùa đến mua, chẳng mấy chốc mà hết sạch.

Ngoài ra chúng ta cũng có nhiều điều kiêng cử khác. Ngưòi Trung quốc nói "hoà khí sinh tài" là đúng lắm. Nếu trong nhà, hay trong cửa hàng mà to tiếng nặng lời thì không thể nào mua may bán đắt được. Việc cúng thần tài cũng là một điều hữu ích đúng như cổ nhân nói "có thờ có thiêng, có kiêng có lành" . Nay ở Việt Nam,ngay cả ở Liên Xô, việc thờ cúng, bói toán đã trở thành công khai. Ở Việt Nam, các công ty quốc doanh đã thờ thần tài, cúng rằm thì không phải là không từng trải kinh nghiệm thực tế! Nay tại Việt Nam, việc thờ cúng, cầu hồn đã phát triển. Thế giới Vận Trung Quốc 2008 đã chọn khai mạc vào lúc 8 giờ, ngày 8, tháng 8 năm 2008 thì không phải là tình cờ!Một anh bạn là giáo sư đại học, có nhà in riêng,đã nói với tôi khi nào thiếu tiền, cầu khẩn thần tài là có ngay!Và tôi nghiệm thấy cúng thần tài đồ mặn như vịt quay, heo quay thi tốt hơn là cúng trái cây.

Bạn thân mến,
Tôi đã trình bày khá đấy đủ những nét sinh hoạt của tôi trong thời gian sống dưới chế độ cộng sản tại Sàigon.Tôi là người thành thực, thẳng thắn, trình bày sự thực, không chút e dè, ngại ngùng. Hơn nữa, tôi là môt người ưa tìm hiểu sự vật, dù là tầm thường hay quan trọng, dù là hữu hình hay vô hình, những suy nghĩ của tôi đã được thực tế kiểm nghiệm, một thực tế hai muơi năm trường, đi sâu trong quần chúng nhân dân, lăn lộn với người lao động, chứ không phải là không tưởng, là lý thuyết suông của những người sống trong tháp ngà.Thực ra những điều tôi suy nghĩ, chỉ là lập lại và xác minh những điều mà người xưa đã nói, và đã kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngàn năm của nhân dân ta.

XVIII. TÔI LÀ NGƯỜI KHÁCH LẠ
  Sau 1975, miền Nam đổi chủ và thay cảnh sắc. Ngoài đường, bọn công an mặc quần áo vàng, đi dép râu, đội nón cối, mang AK đứng đầy đường. Khắp nơi, xe vận tải Liên Xô che vải kín như những dấu tích của thời miền Tây Hoa Kỳ khai hoang. Ngân hàng , chợ búa đóng cửa để kiểm kê. Hàng triệu người miền Nam thất nghiệp, hàng trăm ngàn sĩ quan và công chức phải ngồi tù. Chợ trời và quán cà phê mọc khắp nơi. Người ta đem bàn ghế, tủ, giường bán ngoài đường. Khắp nơi treo ảnh già Hồ.Thiếu nhi và thiếu niên đi học phải thắt khăn quàng đỏ. Ra đường ít người mang áo dài và tô son điểm phấn vì người ta sợ bị cắt quần, tuốt móng tay giữa đường. Không còn gạo Lục tỉnh chở về thành phố vì từ nay họ thực hành kinh tế tự cung tự cấp, vùng nào lo thực phẩm cho vùng đó, không có buôn bán từ làng này qua làng khác, xã này qua xã khác.Có là chủ trương cấm chợ ngăn sông của đảng cộng sản để cho người dân muôn đời sống trong nhà giam Hợp tác xã, bãi bỏ buôn bán cá thể, và không cho dân chúng liên lạc với thế giới bên ngoài. Đi đâu là phải xin phép đi dường, khách đến nhà phải trình báo. Tất cả chúng ta như sống vào một không gian khác lạ. Trong khi bọn cộng sản và bọn ba mươi hớn hở tung hô chế độ, những người quốc gia chúng ta bị '' chấn động văn hóa'' ( cultural shock).

 Người Tây phương dùng danh từ này để diễn tả tâm trạng của những người đi từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, và họ cảm thấy đau khổ vì mọi thứ như phong tục, chính trị, kinh tế, ngôn ngữ, y phục, thực phẩm. . . . đều khác lạ với nếp sống quen thuộc của họ. Chúng ta không cần đi ra nước ngoài, chúng ta ở trong đất nước của chúng ta, thế mà cộng sản vào miền nam đã gây xáo trộn đời sống nhân dân ta, khiến cho ta khó chịu, buồn bực và đau khổ! Ấy là ta đã bị ''chấn động văn hóa'' ngay tại nước ta! Chúng ta đã cảm thấy mình như đang ở một quốc gia xa lạ, với những tên công an, cán bộ của một chính quyền man rợ tại một vùng hoang vu trên trái đất!

Sau 1975, những nhà giáo không thuộc diện sĩ quan và công chức cao cấp thì không phải đi ''học tập cải tạo''. Vì vậy, chúng tôi còn ở lại trường học tập chính trị, họ nói ai học tập tốt có thể được xét ở lại giảng dạy. Trước đây, tôi là dân vượt tuyến. Thủơ nhỏ tôi đã sống trong vùng cộng sản, và học tại một trường trung học tại núi rừng. Tôi đã biết ít nhiều về cộng sản. Tôi không tin tưởng ở những lời hứa hẹn của họ, vì họ không bao giờ nói thật.
Cộng sản làm thì không nói, cộng sản nói thì không làm!

Tôi là một học sinh bình thường, không thuộc diện đoàn, đảng. Còn những học sinh đoàn đảng thì quá dốt và luôn lăng xăng họp hành riêng với nhau. Tôi có cảm tưởng bọn họ là một loại học sinh '' con đẻ'', còn chúng tôi là loại học sinh '' con nuôi'', hoặc một loại ''người dưng nước lã'', một loại ''khách lạ'' đến từ một nơi xa xăm!

Cảm giác ''người khách lạ'' lại xuất hiện lần nữa sau 1975. Trong trường, còn lại những bạn bè với nhau, chúng tôi vô hình trung thuộc về một loại với nhau dù không bị bôi vôi, cạo trọc đầu hoặc mang biển, mang băng đi khắp thành phố như hồi cách mạng văn hóa bên Trung quốc. Nhìn thái độ và mặt mũi, người ta thấy rõ chúng tôi thuộc bọn '' chế độ cũ'' Sài gòn. Trong khi các cán bộ quân quản mang dép râu, đội nón tai bèo, chúng tôi chỉ mang y phục bình thường quần tây, áo sơ mi. Y phục khác nhau mà tâm tư cũng khác nhau. Họ là kẻ chiến thắng còn chúng tôi ý thức chúng tôi là tù hàng binh và chợt nhớ đến câu thơ Nguyễn Du:
''Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu!
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!''

Họ bắt chúng tôi học tập chính trị một thời gian. Lúc đó họ phân loại chúng tôi . Các vị tiến sĩ quốc gia ( Pháp) thì ngang hàng phó tiến sĩ xã hội chủ nghĩa, còn tiến sĩ đệ tam cấp ( Pháp), Ph.D., master (Mỹ) cao học, cử nhân (Việt Nam) thì ngang hàng tốt nghiệp đại học xã hội chủ nghĩa. Tôi bắt chuớc câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc cho bạn bè nghe:
Tiến sĩ còn chẳng ra gì,
Cử nhân, cao học khác chi thằng hề!
Có lẽ mặt mũi chúng tôi không còn sáng sủa, và bước chân của chúng tôi không mạnh mẽ và nhanh nhẹn như thời trước. Trong khi đó những anh nằm vùng hoặc '' tân gia ba''( mới gia nhập vào ngày 30 tháng tư) thì lăng xăng, năng nổ. Tức cười nhất là một vị linh mục những ngày đầu tiên ông cũng đứng ngồi khép nép mất tự nhiên như chúng tôi. Vài ngày sau, không biết xin đâu một cái băng đỏ, ông cũng đeo vào cánh tay, gia nhập vào đám cán bộ quân quản, và bọn '' ba mươi''cũng lăng xăng chạy lui chạy tới như gà mắc đẻ. Ít lâu sau, ông vắng bóng, nghe đâu ban quân quản đã cho các vị tôn giáo trở về với tôn giáo!

Những ngày đó chúng tôi không tích cực như bọn ba mươi nhưng cũng không tỏ rõ thái độ chống đối, tuy nhiên đôi khi thấy họ nói ngang ngược quá thì cũng phải góp ý kiến vì nếu im lặng, người ta sẽ cho là trí thức miền Nam ngu! Vì thế mà tên tổ trưởng vốn là một tên cơ hội chủ nghĩa, báo cáo cuối khóa học tập rằng chúng tôi có thái độ đối kháng. Mà đối kháng đồng nghĩa với phản kháng, với phản động! Mà phản động có nghĩa là sẽ bị đảng và nhà nước trừng trị, cho vào trại giam! Nghe ông ''triết gia tổ trưởng'' dùng chữ trong bản báo cáo, chúng tôi ớn xương sống và biết số phận của chúng tôi đã được quyết định. Lúc này, lớp học chính trị của chúng tôi thỉnh thoảng vắng bóng một vài người. Tôi nghe bạn bè kháo nhau họ đã vượt biên. 

Trong trường, các cán bộ quân quản luôn họp hành với các sinh viên đoàn đảng và các tên tổ trưỡng, tổ phó và các tên ba mươi! Rõ ràng chúng tôi là một lũ tội nhân đang chờ ngày phán xử. Trong những buổi học tập, phải nghe những tên cán bộ i tờ lên lớp về sáng kiến xăng khô của Liên Xô ( Liên Xô chế ra xăng bột rất tiện lợi, khi dùng thì lấy ra một ít bột, đổ nước lạnh vào quậy lên mà dùng), nhờ cố vấn quân sự của đảng ta mà '' Một Răng''( Iran), '' Một Rắc''( Iraq) chiến thắng đế quốc Mỹ; và sự giàu sang của miền Bắc xã hội chủ nghĩa như là đã sản xuất xe ô-tô xuất khẩu, chỗ nào cũng có dầu lửa, nhân dân ta chỉ cần cắm cuống đu đủ là dầu bốc lên tha hồ nấu bánh chưng! Chán nản quá, vào lớp học tôi không sao chống nổi con ma ngủ xâm nhập cơ thể! 

Dẫu biết đó là một hành động kém khôn ngoan nhưng biết làm thế nào được! Tôi có cảm giác rằng chúng tôi là một thứ ngoại quốc ngay trên đất nước tôi. Y phục của họ khác chúng tôi, cách nói năng và suy tưởng khác chúng tôi. Tôi và họ tuy là cùng giống Việt Nam nhưng có hai nền văn hóa khác nhau! Và điều quan trọng nhất họ là người chiến thắng còn chúng tôi là kẻ chiến bại! Xúc cảnh sinh tình, tôi đọc cho các bạn tôi nghe mấy câu thơ của tôi:
Nước này nào phải nước ta,
Mình là ngoại quốc lo mà hồi hương!
Mình là khách lạ ở trường,
Mau về mà vượt đại dương cho rồi!

It lâu sau thì đa số chúng tôi ra khỏi trường, chỉ trừ các anh em ban sinh ngữ hoặc những người có khả năng sinh ngữ là được ở lại. Một ông bạn già của tôi có việc cần tra cứu sách vở cho nên đã trở lại thư viện trường xin đọc sách. Họ vẫn lịch sự cho ông vào vì người thủ thư là người cũ. Khi về, ông cho biết nhân viên trường đã thay đổi gần hết, sinh viên và nhân viên đều nhìn ông như một người xa lạ. Riêng tôi, từ khi ra khỏi trường thì không bao giờ trở lại trường nữa. Tôi hiểu được nỗi cô đơn lạc loài của ông bạn già. Thật ra chúng ta bao giờ cũng chỉ là người khách lạ trong cuộc đời này! Thời trước chúng tôi còn dạy học, thì chỉ những sinh viên nào học với chúng tôi thì mới biết chúng tôi. Ngoài ra, các sinh viên khác chỉ biết đại khái chúng tôi là thầy giáo của nhà trường, thế thôi! Có kẻ lâu lâu mới tới trường một lần, tất nhiên chẳng biết ai là ai!

 Sinh viên cũ lớp thì bị ngồi tù hoặc chết trong lửa đạn ' Mùa Hè Đỏ Lửa'' hay ''Mùa Xuân Đại Thắng'', kẻ thì vượt biên, người thì không được tiếp tục học vì lý lịch xấu hoặc vì gia cảnh sa sút không đủ tiền ăn học! Nay đổi thay tình thế, thầy mới, trò mới, làm sao ai còn biết ai ! Khi ra khỏi môi trường hoạt động, chúng ta chỉ là những con người lẻ loi, cô độc, là những khách la! Ông bác sĩ, bà dược sĩ, cô vũ nữ, chàng họa sĩ. . . ra đường cũng chỉ là những con người vô danh trong đám đông!

Khoảng 1985, nhạc phụ tôi mất, nhạc mẫu và mấy đứa em ra ngoại quốc, căn nhà trước kia đông đúc khoảng mười người ở, nay vắng tanh, chỉ còn lại một đứa cháu thường vắng nhà. Hai bên và đàng sau, người ta đã lên lầu cho nên căn nhà cũ bị che ánh mặt trời, trở thành tối om. Những ngày có điện thì có thể bật đèn sáng khi vào nhà, còn những ngày cúp điện thì tối om và nóng không thể tả! Những ngày giỗ chạp, chúng tôi đến cúng vái mà lòng tôi ngậm ngùi vì cảnh cũ người xưa không còn nữa!


Mười năm sau ngày Sài gòn thất thủ, tôi đã trở ra miền Trung thăm mái nhà xưa. Anh em, họ hàng đối với tôi rất chân tình. Người làng có vài kẻ nhận ra tôi, còn đa số nhìn tôi bằng con mắt xa lạ. Những kẻ biết tôi chút chút thì gọi tôi là '' ông Sài gòn''!Tại thôn xóm của mình, tôi thấy phong cảnh đổi khác, và tôi đã trở thành người khách lạ đối với nơi quê hương tôi sinh trưởng. Tôi là người khách lạ vì tôi có cảm giác khác xưa, không thân thiết như xưa. 

Tôi xa lạ với một số người trong làng vì họ mới lớn lên hay họ từ một nơi nào khác đến hoặc trở về. Và tôi cũng chỉ là một du khách, về đây một thời gian rất ngắn rồi lại lên đường, không biết bao giờ có thể trở lại! Không những tôi xa lạ mà tôi còn mang cảm giác bất an như có một ai đang rình rập tôi! Lúc nói năng, tôi phải gìn giữ từng lời, vì sợ báo cáo và xuyên tạc. Trong một không khí như thế, làm sao mà thân mật!

Ngôi nhà của tôi vẫn còn đó nhưng ngày xưa ông bà, cha mẹ, anh em chú bác quây quần, nay vào ra quạnh hiu chỉ còn mẹ tôi và tôi. Một vài anh chị bà con thỉnh thoảng ghé vào thăm viếng nhưng đêm khuya, một mình dưới bóng trăng lạnh lẽo, tôi cảm thấy cô đơn vô hạn, dường như mọi người đã bỏ đi thật xa, chỉ còn lại mình tôi. Những người thân yêu đã chết, những bạn bè vào bộ đội, đi làm ăn xa hoặc đi kinh tế mới hoặc đã chết. Những cô gái ngày xưa đã đi lấy chồng xa. Tôi mang tâm trạng lạc loài của Lưu Thần, Nguyễn Triệu trở lại quê nhà thì cha mẹ, ông bà, họ hàng, bạn bè đã thất lộc từ lâu, mà những lớp người hiện tại không ai biết chút gì về mình. Trước và sau tôi là sương mù, là sa mạc hoang vu . . .


Năm 1995, tôi và gia đình sang Canada theo chương trình đoàn tụ gia đình. Tôi cảm thấy thích thú vì người dân Canada rất hiền lành và lịch sự. Phong cảnh rất đẹp. Ở trong thành phố mà như nơi núi rừng vì chỗ nào cũng có công viên rậm rạp và cây cối um tùm. Các giống se sẻ, quạ, bồ câu, hải âu bay khắp nơi. Những con sóc leo lên leo xuống những hàng cây bên vệ đường, thỉnh thoảng chạy băng qua đường. Chúng tôi càng thích thú hơn khi thành phố im lặng, không ồn ào, bụi bặm như Sài gòn. Nhất là ngày đêm không có tiếng súng và hình ảnh những công an, bộ đội trong thành phố như tại Việt Nam! Tôi rất vui vì ngày đêm không còn lo công an ập tới xét nhà và bắt đi. Nhưng tôi vẫn có nỗi buồn của tôi. 

Tôi nhớ quê hương, bà con và bạn bè tại Việt Nam. Trong tôi, những kỷ niệm xưa sống lại. Ngày xưa, tôi ra khỏi nhà thỉnh thoảng gặp bạn bè quen rủ đi uống cà phê. Cuối tuần, thỉnh thoảng chúng tôi còn nhậu nhẹt với nhau. Nhưng bây giờ xung quanh là người xa lạ. Tôi thường ở nhà đọc và viết. Muốn đi đâu phải dầm tuyết lạnh đợi xe bus. Công việc làm ăn xứ người khó khăn vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Những chuyên môn, những bằng cấp quá khứ trở thành vô dụng sau 1975 và sau khi chúng ta ra ngoại quốc! Một hôm, tôi ngồi trên ghế một thương xá ngắm người qua lại. Một ông lão Canada đến ngồi bên cạnh và thân mật hỏi tôi:
- Phải chăng ông là du khách Nhật Bản?
Tôi trả lời:
- Vâng, tôi là một du khách, là một người khách lạ trong thành phố này!



HẾT

No comments:

Post a Comment